Tổng quan luận án
Bệnh lý tuyến giáp là nhóm bệnh lý nội tiết phổ biến trên thế giới với hơn một tỉ người mắc và có xu hướng gia tăng. Tại Việt Nam, ước tính có khoảng 9 đến 10 triệu người nằm trong diện nguy cơ thiếu hụt iod, trong đó tỷ lệ mắc bướu tuyến giáp địa phương tại một số vùng chiếm từ 15% đến 30%. Phẫu thuật tuyến giáp (bao gồm mổ mở kinh điển và phẫu thuật nội soi) cùng các can thiệp vùng cổ trước như mở khí quản là những thủ thuật ngoại khoa được thực hiện thường quy. Thống kê từ 2.194 ca phẫu thuật cắt tuyến giáp qua nội soi tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương cho thấy việc nắm vững cấu trúc giải phẫu vùng phẫu trường là điều kiện tiên quyết để đảm bảo an toàn và hạn chế tai biến. Hai biến chứng ngoại khoa lớn thường gặp gồm có chảy máu (tỷ lệ khoảng 1% đến 1,1%) và tổn thương thần kinh thanh quản gây liệt dây thanh âm (tỷ lệ từ 3% đến 8%, trong đó khoảng 0,3% đến 3% là tổn thương vĩnh viễn không hồi phục). Riêng phẫu thuật mở khí quản cấp cứu ghi nhận tỷ lệ chảy máu sau mổ lên tới 4,8%.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ thực trạng các giáo trình, sách giáo khoa giải phẫu học và tài liệu tham khảo ngoại khoa tiếng Việt hiện hành chưa cung cấp đầy đủ dữ liệu định lượng và mô tả chi tiết về hệ thống mạch máu và thần kinh tuyến giáp trên người Việt Nam. Cụ thể, các đặc điểm về tần suất xuất hiện, nguyên ủy, đường kính, chiều dài, dạng phân nhánh của động mạch giáp trên, động mạch giáp dưới, tĩnh mạch giáp giữa, tĩnh mạch giáp dưới, sự hiện diện bất thường của động mạch giáp dưới cùng, cũng như mối tương quan không gian giữa các dây thần kinh thanh quản với mạch máu và cấu trúc thanh - khí quản chưa được hệ thống hóa đầy đủ trên cỡ mẫu xác người Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm hai nội dung:
- Mô tả các dạng, kích thước, liên quan của mạch máu tuyến giáp.
- Xác định các dạng, đường đi và liên quan của thần kinh thanh quản quặt ngược và nhánh ngoài thần kinh thanh quản trên với tuyến giáp.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Xác ướp người Việt Nam trưởng thành được hiến tặng cho công tác đào tạo và nghiên cứu y học.
- Địa điểm nghiên cứu: Bộ môn Giải phẫu học, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi nội dung: Giải phẫu học định khu và hình thái định lượng hệ thống động mạch (động mạch giáp trên, động mạch giáp dưới, động mạch giáp dưới cùng), hệ thống tĩnh mạch (tĩnh mạch giáp trên, tĩnh mạch giáp giữa, tĩnh mạch giáp dưới) và hệ thống thần kinh thanh quản (nhánh ngoài thần kinh thanh quản trên, thần kinh thanh quản quặt ngược) liên quan trực tiếp đến tuyến giáp.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về giải phẫu tuyến giáp, phôi thai học và các biến thể mạch máu - thần kinh:
Về động mạch giáp trên:
- Sung-Yoon Won (2016) nghiên cứu trên 30 xác người Hàn Quốc, ghi nhận nguyên ủy động mạch giáp trên xuất phát từ động mạch cảnh ngoài (20%, khoảng cách đến chỗ chia đôi động mạch cảnh chung là 4,5 ± 2,3 mm), tại chỗ chia đôi (40%) và từ động mạch cảnh chung (40%, khoảng cách -9 ± 6,4 mm).
- Shivaleela (Ấn Độ) phẫu tích 42 xác ghi nhận 88,9% nguyên ủy nằm trên bờ trên sụn giáp, 11,9% nằm ngang mức bờ trên; nguyên ủy từ động mạch cảnh ngoài chiếm 78,57% bên phải và 73,8% bên trái; khoảng cách từ cực trên tuyến giáp đến vị trí bắt chéo của nhánh ngoài thần kinh thanh quản trên trên 1 cm chiếm 73,8%.
- AbhiJeet Joshi (2014) khảo sát 33 xác ghi nhận động mạch giáp trên xuất phát từ động mạch cảnh ngoài chiếm 66,67%, chỗ chia đôi 31,81% và động mạch cảnh chung 1,51%.
- Lê Văn Cường (2012) khảo sát người Việt Nam ghi nhận xuất phát từ động mạch cảnh ngoài 30,3%, động mạch cảnh chung 13,7% và chỗ chia đôi 55,8%.
| Tác giả |
Động mạch cảnh ngoài (%) |
Động mạch cảnh chung (%) |
Nơi phân chia động mạch cảnh (%) |
Động mạch cảnh trong (%) |
| Anitha |
59,0 |
21,0 |
19,0 |
- |
| Banna |
68,0 |
10,0 |
22,0 |
- |
| Lê Văn Cường |
30,3 |
13,7 |
55,8 |
- |
| Gupta (Phải / Trái) |
71,5 / 72,5 |
21,5 / 18,5 |
7,0 / 9,0 |
0,04 / 0 |
| Joshi |
66,67 |
1,51 |
31,81 |
- |
| Lucev |
30,0 |
47,5 |
22,5 |
- |
| Ozgur |
25,0 |
35,0 |
40,0 |
- |
| Shivaleela (Phải / Trái) |
78,57 / 73,8 |
2,38 / 2,38 |
19,04 / 23,8 |
- |
| Won |
20,0 |
40,0 |
40,0 |
- |
Về động mạch giáp dưới và liên quan với thần kinh thanh quản quặt ngược:
- Roshan (50 xác): 100% động mạch giáp dưới bên trái xuất phát từ thân giáp cổ, bên phải 96% từ thân giáp cổ và 4% từ động mạch dưới đòn; chiều dài động mạch bên phải ngắn hơn bên trái có ý nghĩa thống kê (p < 0,001).
- AbhiJeet Joshi (2014): 100% động mạch giáp dưới xuất phát từ thân giáp cổ; động mạch đi trước thần kinh chiếm 87,88% (phải 90,91%, trái 84,85%), động mạch đi sau thần kinh chiếm 12,12% (phải 9,09%, trái 15,15%).
| Tác giả |
Số ca |
Tỷ lệ không có động mạch giáp dưới phải (%) |
Tỷ lệ không có động mạch giáp dưới trái (%) |
| Chandrakal |
80 |
3,75 |
6,25 |
| Sunanda |
26 |
0,0 |
7,69 |
| Joshi |
33 |
0,0 |
0,0 |
Về tĩnh mạch tuyến giáp:
- Tĩnh mạch giáp trên: Wafae (2008, 30 xác) ghi nhận 83,3% có 1 thân độc lập, 16,7% có 2 thân độc lập; 97,2% đổ về tĩnh mạch cảnh trong; 87,1% đổ về bằng 1 nhánh và 12,9% đổ về bằng nhiều nhánh.
- Tĩnh mạch giáp giữa: Hiện diện với tỷ lệ biến thiên lớn giữa các nghiên cứu: Chevrel ghi nhận 29%, Dionigi ghi nhận 38% trên xác và 62% trên lâm sàng, Wafae ghi nhận 43,3% (phải 23,3%, trái 16,5%).
- Tĩnh mạch giáp dưới: Belli, Krausen và Wafae ghi nhận tính đa dạng về số nhánh nguyên thủy hình thành thân tĩnh mạch trước khi đổ vào thân tĩnh mạch cánh tay đầu hai bên hoặc hợp lưu.
| Tác giả |
1 nhánh (%) |
2 nhánh (%) |
3 nhánh (%) |
≥4 nhánh (%) |
| Belli |
38,0 |
33,0 |
16,0 |
3,0 |
| Krausen |
10,0 |
10,0 |
40,0 |
40,0 |
| Wafae |
62,1 |
27,6 |
3,4 |
3,4 |
Về thần kinh liên quan tuyến giáp:
- Phân loại Cernea (1992) đối với nhánh ngoài thần kinh thanh quản trên (NNTKTQT): Dạng 1 (vị trí bắt chéo động mạch giáp trên nằm cách cực trên tuyến giáp > 1 cm), Dạng 2a (vị trí bắt chéo nằm cách từ 0 đến 1 cm), Dạng 2b (thần kinh đi võng xuống dưới mặt phẳng ngang qua cực trên trước khi vào cơ nhẫn giáp, nguy cơ tổn thương ngoại khoa từ 14% đến 54%).
- Phân loại Friedman (NNTKTQT tương quan với cơ khít hầu dưới): Dạng 1 (chạy nông trên bề mặt cơ), Dạng 2 (chạy sâu vào các sợi cơ phần thấp), Dạng 3 (vùi hoàn toàn trong cơ khít hầu dưới).
- Phân loại Selvan (2009) trên 35 ca phẫu thuật (70 dây thần kinh) kết hợp kích thích điện cơ xác định 4 nhóm tương quan (1a, 1b, 2, 3).
- Thần kinh thanh quản quặt ngược (TKTQQN): Được Galen mô tả lần đầu; đường đi từ trung thất lên cổ nằm trong rãnh khí - thực quản, liên quan mật thiết với động mạch giáp dưới và dây chằng Berry. Ba vị trí có nguy cơ tổn thương cao nhất gồm: vùng dây chằng Berry, nơi bắt chéo/phân nhánh của động mạch giáp dưới và lỗ trên lồng ngực. Tỷ lệ không quặt ngược bên phải do biến thể mạch máu phôi thai chiếm khoảng 0,5% đến 1,5%.
Vị trí của luận án: Giải quyết khoảng trống dữ liệu hình thái học giải phẫu trên người Việt Nam bằng phương pháp phẫu tích đại thể kết hợp vi phẫu trên xác, thiết lập bộ số liệu đối chiếu chuẩn xác phục vụ thực hành phẫu thuật đầu cổ và nội soi tuyến giáp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên nền tảng lý thuyết phôi thai học cung mang (sự di chuyển của mầm tuyến giáp từ lỗ tịt đáy lưỡi qua ống giáp lưỡi xuống trước khí quản; sự phát triển của cung mang thứ 4 tạo thần kinh thanh quản trên và cung mang thứ 6 tạo thần kinh thanh quản quặt ngược gắn liền với sự biến đổi cung động mạch chủ) và giải phẫu học định khu vùng cổ trước.
Phương pháp nghiên cứu:
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp định tính hình thái học và định lượng kích thước giải phẫu trên xác người.
- Đối tượng nghiên cứu: Xác ướp người Việt Nam trưởng thành tại Bộ môn Giải phẫu Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Các tiêu chuẩn loại trừ bao gồm xác có biến dạng giải phẫu vùng cổ do chấn thương, can thiệp phẫu thuật tuyến giáp trước đó hoặc khối u xâm lấn phá hủy cấu trúc mạch máu - thần kinh.
- Công cụ và phương pháp thu thập số liệu:
- Bộ dụng cụ phẫu tích chuyên dụng vùng đầu cổ và vi phẫu.
- Thước đo độ dày, thước kẹp điện tử và compa đo khoảng cách chính xác đến milimét.
- Quy trình bộc lộ tuần tự: Rạch da bộc lộ vùng cổ ngực, cắt nhóm cơ dưới móng và cơ ức đòn chũm, mở lồng ngực bộc lộ cung động mạch chủ và các mạch máu lớn, phẫu tích tuyến giáp, thám sát gốc xuất phát và đường đi của động mạch giáp trên, động mạch giáp dưới, động mạch giáp dưới cùng, hệ thống các tĩnh mạch giáp, phẫu tích bộc lộ liên tục thần kinh thanh quản quặt ngược và nhánh ngoài thần kinh thanh quản trên.
- Đo đạc các biến số: Đường kính ngoài tại nguyên ủy, chiều dài thân mạch máu, khoảng cách từ nguyên ủy/điểm phân nhánh/điểm bắt chéo đến các mốc giải phẫu cố định (bờ trên sụn giáp, cực trên tuyến giáp, cực dưới tuyến giáp, chỗ chia đôi động mạch cảnh chung, đường giữa cổ).
- Phân loại các biến thể theo các hệ thống phân loại chuẩn quốc tế (Cernea cho NNTKTQT; phân loại vị trí tương quan TKTQQN với động mạch giáp dưới và rãnh khí - thực quản).
- Phân tích dữ liệu: Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê y học, tính toán các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, tỷ lệ phần trăm các dạng biến thể, so sánh sự khác biệt giữa hai bên cổ (phải - trái) và giữa hai giới.
- Y đức: Đề tài tuân thủ các quy định về đạo đức trong nghiên cứu y sinh học, được Hội đồng Đạo đức trong Nghiên cứu Y Sinh học Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh xét duyệt và thông qua.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng kết toàn diện các kiến thức kinh điển và y văn cập nhật về:
- Quá trình phát triển phôi thai của tuyến giáp, giải thích nguồn gốc hình thành thùy tháp, di tích ống giáp lưỡi và cơ chế hình thành các biến thể quặt ngược của thần kinh thanh quản liên quan đến sự thoái triển/phát triển của hệ cung động mạch chủ.
- Cấu trúc giải phẫu định khu tuyến giáp: Hình thể ngoài (hai thùy, eo tuyến, thùy tháp), kích thước, trọng lượng trung bình (40 - 42 g), hệ thống bao xơ, dây chằng cố định (dây chằng giữa, dây chằng bên, dây chằng Berry) và các liên quan tiếp xúc giải phẫu xung quanh.
- Mô tả chi tiết nguyên ủy, đường đi, phân nhánh của động mạch giáp trên, động mạch giáp dưới, động mạch giáp dưới cùng (động mạch Neubauer), tĩnh mạch giáp trên, tĩnh mạch giáp giữa, tĩnh mạch giáp dưới.
- Đặc điểm giải phẫu học lâm sàng của nhánh ngoài thần kinh thanh quản trên (khoang phẫu thuật Reeves, tam giác Jolls) và thần kinh thanh quản quặt ngược cùng các cơ chế gây tổn thương dây thanh, chảy máu trong phẫu thuật tuyến giáp và mở khí quản.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương này trình bày chi tiết quy trình thực nghiệm và phương pháp luận:
- Tiêu chuẩn chọn mẫu và quy trình xử lý xác ướp bảo quản y khoa.
- Mô tả chi tiết các đường rạch da vùng cổ - ngực, các bước cắt tách cơ dưới móng, bộc lộ bao cảnh và phẫu trường tuyến giáp.
- Quy chuẩn hóa phương pháp đo đạc: Sử dụng thước đo chuyên dụng để xác định đường kính ngoài mạch máu, chiều dài thân mạch, góc phân nhánh và khoảng cách không gian giữa các mốc giải phẫu.
- Định nghĩa các biến số nghiên cứu định lượng (đường kính, chiều dài, khoảng cách mm) và biến số định tính (vị trí nguyên ủy, kiểu phân nhánh, hướng đi, tương quan trước - sau giữa mạch máu và thần kinh).
- Các bước kiểm soát sai số đo đạc và quy trình chấp thuận y đức.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu được hệ thống hóa thành hai nhóm lớn với các bảng số liệu chi tiết:
- Hệ thống mạch máu tuyến giáp:
- Động mạch giáp trên: Tỷ lệ xuất hiện đạt 100% ở cả hai bên cổ. Vị trí nguyên ủy phân bố đa dạng: xuất phát từ động mạch cảnh ngoài, tại chỗ chia đôi động mạch cảnh chung hoặc từ thân động mạch cảnh chung. Luận án ghi nhận đầy đủ các thông số về kích thước đường kính, chiều dài thân mạch, khoảng cách từ nguyên ủy đến chỗ phân đôi động mạch cảnh và sự phân bố các nhánh tận cấp máu cho tuyến giáp và tuyến cận giáp.
- Động mạch giáp dưới: Tần suất hiện diện, tỷ lệ vắng mặt một bên hoặc hai bên, vị trí xuất phát chủ yếu từ thân giáp cổ (một tỷ lệ nhỏ từ động mạch dưới đòn hoặc động mạch khác), kích thước đường kính, chiều dài và số lượng nhánh tận đi vào cực dưới tuyến giáp.
- Động mạch giáp dưới cùng: Tỷ lệ xuất hiện trên mẫu nghiên cứu, vị trí nguyên ủy (thân cánh tay đầu, cung động mạch chủ hoặc động mạch cảnh chung), đường đi trước khí quản và kích thước mạch.
- Hệ thống tĩnh mạch:
- Tĩnh mạch giáp trên: 100% trường hợp hiện diện, xác định tỷ lệ có 1 thân hoặc 2 thân độc lập, các dạng vị trí đổ về (tĩnh mạch cảnh trong, thân tĩnh mạch mặt chung).
- Tĩnh mạch giáp giữa: Tỷ lệ hiện diện ở một bên và hai bên cổ trên cùng một xác, vị trí xuất phát ở bờ ngoài tuyến giáp, chiều dài thân tĩnh mạch và vị trí tận cùng đổ vào tĩnh mạch cảnh trong.
- Tĩnh mạch giáp dưới: Đánh giá số lượng nhánh nguyên thủy tạo thành thân tĩnh mạch, tính đa dạng phức tạp của mạng lưới tĩnh mạch trước khí quản và các vị trí đổ về (thân tĩnh mạch cánh tay đầu phải, trái hoặc chỗ hợp lưu).
- Hệ thống thần kinh liên quan tuyến giáp:
- Nhánh ngoài thần kinh thanh quản trên: Tỷ lệ nhận diện được trên phẫu tích, chiều dài, đường kính và số nhánh tận chi phối cho cơ nhẫn giáp. Thống kê tỷ lệ phân bố các dạng tương quan giữa NNTKTQT và bó mạch giáp trên theo hệ thống phân loại Cernea (Dạng 1, Dạng 2a, Dạng 2b) dựa trên khoảng cách từ điểm bắt chéo đến mặt phẳng ngang qua cực trên tuyến giáp.
- Thần kinh thanh quản quặt ngược: Tần suất nhận diện đường đi trong rãnh khí - thực quản ở hai bên cổ, số nhánh phân chia trước khi chui vào thanh quản. Phân tích chi tiết các dạng liên quan vị trí giữa thần kinh thanh quản quặt ngược và động mạch giáp dưới (thần kinh đi trước, đi sau hoặc đi xen giữa các nhánh phân chia của động mạch) ở bên phải, bên trái và tính đối xứng trên cùng một cá thể.
Chương 4: Bàn luận
Tác giả tiến hành biện luận, so sánh các phát hiện nghiên cứu với y văn trong nước và quốc tế:
- So sánh các biến thể nguyên ủy động mạch giáp trên của người Việt Nam với các chủng tộc khác (Hàn Quốc theo Won, Ấn Độ theo Shivaleela, Joshi, Châu Âu theo Lucev, Ozgur), qua đó chỉ ra tính đa dạng giải phẫu và sự tương đồng/khác biệt do yếu tố chủng tộc.
- Đánh giá ý nghĩa ngoại khoa của mối liên quan giữa NNTKTQT và động mạch giáp trên theo phân loại Cernea, đặc biệt lưu ý nhóm có nguy cơ tổn thương cao (dạng 2b) trong thao tác thắt bó mạch cực trên tuyến giáp.
- Phân tích sự phức tạp trong mối tương quan giữa thần kinh thanh quản quặt ngược và các nhánh của động mạch giáp dưới; đối chiếu với kết quả của Joshi, Campos và các tác giả khác để khuyến cáo phẫu thuật viên về các vị trí nguy cơ cao gây liệt dây thanh âm (đặc biệt tại vùng dây chằng Berry và vị trí bắt chéo mạch máu).
- Bàn luận về vai trò giải phẫu học của hệ thống tĩnh mạch vùng cổ trước (tĩnh mạch giáp giữa và tĩnh mạch giáp dưới), giải thích cơ chế các tai biến chảy máu ồ ạt trong phẫu thuật mở khí quản cấp cứu và phẫu thuật nội soi tuyến giáp khi phẫu trường bị che khuất bởi đám rối tĩnh mạch phong phú trước khí quản.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học giải phẫu:
- Cung cấp bộ dữ liệu đầy đủ, toàn diện và có hệ thống đầu tiên về các chỉ số hình thái định lượng (chiều dài, đường kính, khoảng cách mốc giải phẫu) và định tính (tần suất biến thể, dạng phân nhánh, vị trí đổ về) của hệ thống mạch máu và thần kinh tuyến giáp trên người Việt Nam trưởng thành.
- Xác lập tỷ lệ phân bố chính xác các dạng liên quan giải phẫu quan trọng theo thang phân loại quốc tế: Phân loại Cernea cho nhánh ngoài thần kinh thanh quản trên và phân loại tương quan không gian giữa thần kinh thanh quản quặt ngược với động mạch giáp dưới trên cùng một cá thể.
Những đóng góp thực tiễn cho ngoại khoa và lâm sàng:
- Cảnh báo các vị trí nguy hiểm có nguy cơ cao xảy ra tai biến trong phẫu thuật tuyến giáp (đặc biệt là phẫu thuật nội soi): Vùng cực trên nơi NNTKTQT bắt chéo sát động mạch giáp trên (dạng 2b của Cernea), vùng bờ ngoài nơi tĩnh mạch giáp giữa ngắn dễ bị rách gây chảy máu, và vùng rãnh khí - thực quản/dây chằng Berry nơi TKTQQN đi xen giữa các nhánh động mạch giáp dưới.
- Cung cấp cơ sở giải phẫu học cấu trúc đám rối tĩnh mạch giáp dưới và sự hiện diện của động mạch giáp dưới cùng trước khí quản, giúp phẫu thuật viên chủ động kiểm soát cầm máu trong các thủ thuật mở khí quản cấp cứu và phẫu thuật vùng trung thất trên.
- Đề xuất ứng dụng các mốc giải phẫu đo đạc cố định (khoảng cách đến bờ trên sụn giáp, cực trên tuyến giáp, rãnh khí - thực quản) vào quy trình thám sát, bộc lộ và bảo tồn mạch máu - thần kinh trong phẫu thuật cắt tuyến giáp toàn phần hoặc bán phần.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Mẫu nghiên cứu thực hiện trên xác ướp bảo quản bằng hóa chất (formol), do đó kích thước mạch máu và mô mềm có thể có độ co rút nhất định so với trạng thái sinh lý sống trên người bệnh thực tế.
- Chưa khảo sát trên các thể bệnh lý cụ thể (như bướu giáp khổng lồ, bệnh Basedow hoặc ung thư tuyến giáp xâm lấn) vốn là những tình trạng lâm sàng làm thay đổi đáng kể cấu trúc giải phẫu định khu so với giải phẫu bình thường trên xác.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu đối chiếu các biến thể mạch máu và thần kinh trên phẫu trường lâm sàng sống (kết hợp đo đạc qua phẫu thuật nội soi và phẫu thuật mở có sử dụng hệ thống giám sát thần kinh trong mổ - NIM).
- Nghiên cứu ứng dụng chẩn đoán hình ảnh kỹ thuật cao (như chụp cắt lớp vi tính đa dãy mạch máu - CTA, siêu âm Doppler màu mạch máu cổ) để đánh giá trước mổ các biến thể của động mạch giáp dưới cùng và hệ thống tĩnh mạch giáp dưới.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành có giá trị cao cho các đối tượng:
- Bác sĩ phẫu thuật ngoại tổng quát, ngoại ung bướu đầu cổ, tai mũi họng và phẫu thuật lồng ngực: Cung cấp bản đồ giải phẫu chi tiết, các dạng biến thể nguy hiểm cần lưu ý để bộc lộ an toàn và bảo tồn thần kinh thanh quản, kiểm soát chảy máu trong phẫu thuật tuyến giáp và mở khí quản.
- Giảng viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Giải phẫu người: Cung cấp nguồn số liệu thực chứng trên người Việt Nam, bổ sung các chi tiết giải phẫu học định lượng mà các giáo trình kinh điển chưa cập nhật.
- Học viên sau đại học (bác sĩ nội trú, chuyên khoa I, chuyên khoa II, cao học ngoại khoa): Là tài liệu học tập chuẩn mực về kỹ thuật phẫu tích đại thể, phương pháp đo đạc biến số giải phẫu học và quy trình bộc lộ các cấu trúc thần kinh - mạch máu vùng cổ.
Câu hỏi thường gặp
-
Mục tiêu chính của luận án là gì?
Luận án tập trung mô tả các dạng, kích thước, liên quan của hệ thống mạch máu tuyến giáp (động mạch và tĩnh mạch), đồng thời xác định các dạng, đường đi và liên quan của thần kinh thanh quản quặt ngược và nhánh ngoài thần kinh thanh quản trên với tuyến giáp trên người Việt Nam trưởng thành.
-
Nghiên cứu sử dụng hệ thống phân loại nào để đánh giá mối liên quan giữa nhánh ngoài thần kinh thanh quản trên và động mạch giáp trên?
Luận án áp dụng hệ thống phân loại Cernea (1992), chia làm 3 dạng: Dạng 1 (vị trí bắt chéo cách mặt phẳng ngang cực trên tuyến giáp > 1 cm), Dạng 2a (vị trí bắt chéo cách từ 0 đến 1 cm) và Dạng 2b (thần kinh đi võng xuống dưới mặt phẳng cực trên tuyến giáp, là dạng có nguy cơ tổn thương ngoại khoa cao nhất).
-
Động mạch giáp dưới cùng (động mạch Neubauer) có đặc điểm giải phẫu và ý nghĩa ngoại khoa như thế nào?
Động mạch giáp dưới cùng là động mạch không hằng định (xuất hiện trong khoảng 10% các trường hợp theo y văn), thường xuất phát từ thân cánh tay đầu, cung động mạch chủ hoặc động mạch cảnh chung, chạy thẳng lên phía trước khí quản vào eo tuyến giáp. Nhận diện động mạch này rất quan trọng để tránh chảy máu bất ngờ khi mở khí quản hoặc cắt eo tuyến giáp.
-
Ba vị trí nào trên đường đi của thần kinh thanh quản quặt ngược được ghi nhận có nguy cơ tổn thương cao nhất trong phẫu thuật cắt tuyến giáp?
Theo tổng quan giải phẫu học lâm sàng của luận án, ba vị trí TKTQQN dễ bị tổn thương nhất gồm: (1) Vùng dây chằng Berry nơi thần kinh đi vào thanh quản; (2) Vị trí thắt và cắt các nhánh của động mạch giáp dưới nơi thần kinh đi bắt chéo hoặc xen kẽ giữa các nhánh mạch; (3) Lỗ trên lồng ngực nơi thần kinh từ trung thất bắt đầu đi lên vùng cổ.
-
Vì sao hệ thống tĩnh mạch giáp dưới và tĩnh mạch giáp giữa lại đặc biệt quan trọng trong ngoại khoa vùng cổ?
Tĩnh mạch giáp giữa ngắn, chạy ngang qua động mạch cảnh chung đổ thẳng vào tĩnh mạch cảnh trong nên rất dễ bị căng rách gây chảy máu phẫu trường nếu kéo vén tuyến giáp không đúng cách. Tĩnh mạch giáp dưới rất đa dạng về số nhánh, tạo thành đám rối tĩnh mạch phong phú ngay trước khí quản, là nguyên nhân hàng đầu gây chảy máu trong phẫu thuật mở khí quản cấp cứu.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Phi Hùng là công trình khoa học chuyên ngành Giải phẫu người, cung cấp hệ thống dữ liệu định lượng và mô tả hình thái học chi tiết về mạch máu và thần kinh tuyến giáp trên xác ướp người Việt Nam trưởng thành. Công trình đã làm rõ các dạng nguyên ủy, kích thước, biến thể phân nhánh của hệ động mạch, tĩnh mạch giáp và xác lập mối tương quan không gian giữa nhánh ngoài thần kinh thanh quản trên, thần kinh thanh quản quặt ngược với các cấu trúc lân cận theo các phân loại chuẩn quốc tế. Kết quả nghiên cứu có giá trị thực tiễn quan trọng, đóng góp trực tiếp vào công tác giảng dạy giải phẫu học và cung cấp cơ sở khoa học giúp phẫu thuật viên nâng cao tính an toàn, giảm thiểu tai biến chảy máu và tổn thương giọng nói trong phẫu thuật tuyến giáp cũng như các can thiệp ngoại khoa vùng cổ.