Luận án tiến sĩ: Giải phẫu mạch máu và thần kinh tuyến giáp trên người Việt Nam trưởng thành

Luận án tiến sĩ nghiên cứu giải phẫu mạch máu và thần kinh tuyến giáp ở người Việt Nam trưởng thành, cung cấp thông tin chi tiết và giá trị y học.

Chuyên ngành

Giải Phẫu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2022

158
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Phôi thai học tuyến giáp

1.2. Giải phẫu học tuyến giáp, mạch mạch máu tuyến giáp và thần kinh liên quan tuyến giáp

1.3. Các nghiên cứu về mạch máu tuyến giáp và TK liên quan tuyến giáp

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu. Thời gian và địa điểm nghiên cứu. Các biến số nghiên cứu

2.3. Phương pháp, công cụ đo lường thu thập số liệu

2.4. Qui trình nghiên cứu

2.5. Phương pháp phân tích dữ liệu

2.6. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Mạch máu tuyến giáp

3.2. Thần kinh liên quan tuyến giáp

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Mạch máu tuyến giáp

4.2. Thần kinh liên quan tuyến giáp

HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Bảng thu thập số liệu

Danh sách xác được phẫu tích thu thập số liệu

Giấy chấp thuận của Hội Đồng Đạo Đức trong nghiên cứu Y Sinh Học, Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tóm tắt

I. Giới thiệu về nghiên cứu

Nghiên cứu giải phẫu tuyết giáp ở người Việt Nam trưởng thành đã chỉ ra tầm quan trọng của việc hiểu rõ cấu trúc mạch máu tuyến giápthần kinh tuyến giáp. Theo thống kê, có hơn một tỉ người mắc bệnh lý tuyến giáp trên toàn cầu, trong đó Việt Nam có khoảng 9-10 triệu người có nguy cơ thiếu hụt iod. Việc nắm vững cấu trúc giải phẫu này không chỉ giúp phẫu thuật viên tránh được các biến chứng như chảy máu hay tổn thương thần kinh mà còn nâng cao hiệu quả phẫu thuật. Nghiên cứu này nhằm cung cấp thông tin chi tiết về các dạng, kích thước và mối liên quan giữa các cấu trúc này, từ đó hỗ trợ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu y khoa.

II. Giải phẫu học tuyến giáp

Tuyến giáp là một tuyến nội tiết quan trọng, nằm ở vùng cổ trước, có hình dạng chữ H hoặc chữ U. Tuyến này bao gồm hai thùy phải và trái, nối nhau bởi thùy eo. Kích thước và hình dạng của tuyến giáp có thể thay đổi tùy thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi tác, giới tính và chủng tộc. Việc hiểu rõ về giải phẫu học tuyến giáp là cần thiết để thực hiện các phẫu thuật liên quan một cách an toàn. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng sự đa dạng trong cấu trúc mạch máu và thần kinh có thể ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật. Do đó, việc nghiên cứu các dạng mạch máu và thần kinh liên quan đến tuyến giáp là rất quan trọng.

III. Hệ thống mạch máu và thần kinh liên quan

Hệ thống mạch máuthần kinh liên quan đến tuyến giáp bao gồm nhiều cấu trúc phức tạp. Các động mạch như động mạch giáp trênđộng mạch giáp dưới cung cấp máu cho tuyến giáp, trong khi các tĩnh mạch như tĩnh mạch giáp trêntĩnh mạch giáp dưới giúp dẫn lưu máu. Thần kinh thanh quản quặt ngược và nhánh ngoài thần kinh thanh quản trên có vai trò quan trọng trong việc điều khiển các cơ của thanh quản. Việc nắm rõ các mối liên hệ giữa các mạch máu và thần kinh này sẽ giúp phẫu thuật viên tránh được các biến chứng trong quá trình phẫu thuật, đặc biệt là tổn thương thần kinh và chảy máu.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu

Kết quả của nghiên cứu này có thể được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ giảng dạy cho sinh viên y khoa đến thực hành lâm sàng. Việc hiểu rõ về giải phẫu mạch máuthần kinh tuyến giáp sẽ giúp nâng cao chất lượng phẫu thuật, giảm thiểu rủi ro và biến chứng cho bệnh nhân. Ngoài ra, nghiên cứu cũng góp phần vào việc xây dựng các tài liệu giảng dạy và hướng dẫn phẫu thuật, từ đó nâng cao kiến thức cho các bác sĩ và sinh viên y khoa tại Việt Nam.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU Tuyến giáp (Hình 1.1) là một tuyến nội tiết quan trọng và lớn nhất trong cơ thể, có chức năng tham gia điều hòa, chuyển hoá calcium máu và sự phát triển của cơ thể [35],[78]. Tuyến này có hình dạng chữ H hoặc chữ U [12],[104] gồm hai thùy phải và trái nối nhau bởi thùy eo chiếm khoảng 2/3 dưới của tuyến. Về vị trí, tuyến giáp nằm ở vùng cổ trước, trước thanh - khí quản và dưới thanh quản vào khoảng sụn khí quản thứ 2 - 3. Kích thước, hình dạng, thể tích tuyến giáp khác biệt tùy thuộc vào tuổi, chủng tộc, vị trí địa lý và giới tính [96],[98].

Dãi cơ nâng tuyến giáp Thùy tháp tuyến giáp Thùy trái tuyến giáp Thùy phải tuyến giáp Eo tuyến giáp Hình 1.1: Hình ảnh tuyến giáp nằm trước cổ “Nguồn: Reed, 2016” [92] luan an 5 1. Phôi thai học tuyến giáp và các thần kinh thanh quản 1. Phôi thai hoc tuyến giáp Tuyến giáp là tuyến nội tiết hình thành đầu tiên trong phôi, sau ngày thứ 24 sau khi thụ thai [64],[71]. Mầm tuyến giáp được hình thành từ sự dầy lên ở trung tâm mầm thanh quản của lá nội bì khoảng khe túi thanh quản thứ nhất đến thứ hai trong giai đoạn phôi thai [8],[93],[98].

Quá trình hình thành này xảy ra cùng lúc với sự hình thành và phát triển của lưỡi. Trong quá trình phát triển, tuyến giáp cùng với lưỡi dịch chuyển dần xuống dưới vào khoang thanh quản. Sau đó tuyến giáp đi dần ra trước xuyên qua xương móng. Ở giai đoạn sớm này, tuyến giáp nối với lưỡi bởi một ống nhỏ được gọi là ống giáp lưỡi (Hình 1.

Ống giáp lưỡi vẫn tồn tại Thùy tháp Eo tuyến giáp Hình 1.2: Mặt trước của tuyến giáp người lớn còn tồn tại ống giáp lưỡi “Nguồn: Lê Văn Cường, 2013” [2] Mầm nguyên thủy của tuyến giáp là một cấu trúc rỗng [35], nhưng sau đó mô tế bào tuyến giáp dần hình thành phát triển dần thành cơ quan đặc của tế bào nội bì phôi gồm hai thùy phải và trái nối với nhau ở eo tuyến giáp và được định vị trước sụn khí quản thứ nhất đến thứ tư vào tuần thứ 7 của phôi thai luan an 6 [12],[68],[98]. Vào tuần lễ thứ 8 - 10 phôi thai thì ống giáp lưỡi cũng bị thoái triển và không tồn tại, đôi khi tồn tại tạo nên nang giáp lưỡi hoặc ống giáp lưỡi [64]. Tập hợp các tế bào tuyến giáp nguyên thủy này sau đó bị chia thành một mạng lưới các dây biểu mô khi các mạch máu của trung mô xâm nhập vào. Vào tuần lễ thứ 10, các dây này chia thành các nhóm tế bào nhỏ.

Một ống được hình thành trong mỗi nhóm tế bào, các tế bào sắp xếp thành một lớp đơn xung quanh ống này. Trong suốt tuần lễ thứ 11, chất keo bắt đầu xuất hiện trong các cấu trúc, đó là sự hình thành nang tuyến giáp, sau đó sự tập trung iod và sự tạo thành hormon tuyến giáp được bắt đầu. Vào tuần lễ thứ 20, sự kích thích của hormon tuyến giáp bắt đầu tăng và đạt đến mức độ người trưởng thành vào tuần lễ thứ 35 (Hình 1. Thần kinh lang thang (TKLT) Thần kinh lang thang còn gọi là TK X, được hình thành từ cuối tuần thứ 5 thời kỳ phôi thai, nhánh thần kinh thanh quản quặt ngược (TKTQQN) xuất hiện bắt đầu từ tuần thứ 6.

TKTQQN là nhánh của TKLT có mối liên hệ với cung mang thứ 6 của phôi thai và phát triển trực tiếp vào thanh quản. Cung động mạch (ĐM) chủ và các nhánh của nó có mối liên quan phôi thai học với hầu. Do đó, các nhánh của TKLT có mối liên quan giải phẫu với hệ thống các nhánh và cung ĐM chủ [3],[11]. Trong giai đoạn phát triển phôi thai, cổ được phát triển dài ra, kéo theo thanh quản phát triển vào vùng đầu cổ, trong khi đó hệ thống cung ĐM chủ vẫn phát triển trong lồng ngực.

Từ đó các nhánh TKLT chi phối cho thanh quản tạo nên những quai thần kinh (TK) như ở người trưởng thành và được gọi là TKTQQN (Hình 1. Vì thế, nguồn gốc phát triển của TKTQQN được xem có liên quan đến sự phát triển các nhánh mạch máu liên quan, và sự đa dạng của sự phát triển này tạo ra sự đa dạng của dây TKTQQN [40]. luan an 7 Nếu sự phát triển của TKTQQN không có gì thay đổi, thì TKTQQN bên phải được xuất phát quặt ngược từ quai quặt ngược dưới ĐM dưới đòn phải, và TKTQQN trái được xuất phát quặt ngược từ quai quặt ngược ở quai ĐM chủ. Trước khi đến chi phối cho thanh quản, TKTQQN chạy hướng lên trên cổ, liên quan mật thiết với khí quản - thực quản [24],[104], và liên quan mật thiết với các nhánh động mạch giáp dưới (ĐMGD).

TKLT có phần ly tâm tạng lớn và phần hướng tâm tạng. Nó phân bố nhánh đến tim, ruột trước và các cấu trúc có cùng nguồn gốc, đến phần lớn của ruột giữa. Thần kinh của cung mang thứ 4 sẽ trở thành thần kinh thanh quản trên chi phối cho cơ nhẫn giáp và các cơ khít hầu. Thần kinh của cung mang thứ 6 sẽ trở thành thần kinh thanh quản quặt ngược, chi phối cho nhiều cơ vùng hầu khác [1],[3].

Giải phẫu học tuyến giáp, mạch mạch máu tuyến giáp và thần kinh liên quan tuyến giáp 1. Tuyến giáp Tuyến giáp là một tuyến nội tiết nằm trước phần cổ khí quản. Tuyến giáp gồm hai thùy phải và trái, trải dài từ vòng sụn thứ 5 lên hai bên sụn giáp. Hai thùy nối nhau bởi eo tuyến giáp, bắt ngang từ sụn khí quản thứ 1 đến 4.

Đôi khi có một phần tuyến giáp hình tam giác gọi là thùy tháp kéo dài từ bờ trên eo tuyến giáp lên trên. Thùy nằm lệch sang trái so với đường giữa, và nối với xương móng bằng một dải xơ, là dấu vết của ống giáp lưỡi. Mỗi thùy bên tuyến giáp dài 5 – 8 cm, rộng 2 – 4 cm, dày 1 – 2,5cm. Tuyến giáp bình thường cân nặng 40 – 42gam.

Địa lý và chủng tộc ảnh hưởng đến trọng lượng tuyến giáp [12]. luan an 8 A B C D Hình 1.3: Cung ĐM thời kỳ phôi thai và sự quặt ngược của TK thanh quản A: Phôi bình thường với sự hiện diện của các cung ĐM chủ thứ 3, 4 và thứ 6 B: Người lớn bình thường. Ở bên phải TK thanh quản đi dưới ĐM dưới đòn. Bên trái, nó đi dưới dây chằng ĐM.

C: Sự xuất hiện của một ĐM dưới đòn phải sau thực quản. TK đi đến thanh quản mà không quặt ngược. D: Sự xuất hiện của một cung ĐM chủ phải, TK bên phải tạo một quai dưới cung này, TK bên trái đi trực tiếp đến thanh quản. Trường hợp C và D chiếm ít hơn 1%.

“Nguồn: Lê Văn Cường, 2013” [2] luan an 9 Túi hầu họng Hầu nguyên thủy Mầm tuyến giáp nguyên thủy Thực quản Túi thanh khí quản Tim Màng miệng hầu Vòm hầu Lỗ tịt của lưỡi Lưỡi Ống giáp lưỡi Tuyến giáp nguyên thủy Thực quản Vị trí cũ của Hố miệng Xương móng đang màng hầu miệng nguyên thủy phát triển Lỗ tịt Ống giáp lưỡi Chổ teo của ống giáp lưỡi Khí quản Lưỡi Tuyến giáp Xương móng Khẩu cái cứng Khẩu cái mềm Lỗ tịt của lưỡi Chổ teo của ống giáp lưỡi Xương móng Thanh quản Thùy tháp của tuyến giáp Tuyến giáp Hình 1.4: Sự phát triển của tuyến giáp A,B,C: Phôi thai lúc 4,5,6 tuần tuổi. D: Ở người trưởng thành. “Nguồn: Lê Văn Cường, 2013” [2] luan an 10 - Liên quan. Phía trước eo tuyến giáp từ nông vào sâu là da, các mạc cổ và các cơ dưới móng, sau eo tuyến giáp là sụn khí quản.

Mỗi thùy tuyến giáp tiếp xúc bên trong với sụn giáp, sụn nhẫn, phần ngoài các sụn khí quản, cơ khít hầu dưới, thực quản, TKTQQN, và NNTKTQT. Phía trước ngoài là cơ ức giáp, cơ vai móng và cơ ức móng nằm trong lá trước khí quản mạc cổ trước dưới là phần trước trong của cơ ức đòn chủm. Phía sau ngoài là bao cảnh và các thành phần của nó. - Phương tiện cố định.

Tuyến giáp được bọc bởi bao xơ, tạo nên do sự cô đặc của các mô liên kết ngoài biên tuyến giáp. Bao xơ gắn vào mạc tạng bằng một lớp lỏng lẻo, rất dễ bóc tách, có mạch máu và TK đi bên trong. Ngoài ra tuyến giáp còn được cố định vào các sụn kế cận bằng các dây chằng: Dây chằng giữa đi từ mặt trước sụn giáp đến mặt sau eo tuyến giáp. Hai dây chằng bên, đi từ mặt trong mỗi thùy đến khí quản và sụn nhẫn.

Dây chằng thứ tư nối thùy tháp với sụn giáp hoặc xương móng. Mạch máu tuyến giáp - Động mạch giáp trên (ĐMGT) phát sinh từ mặt trước ĐM cảnh ngoài, tựa vào cơ khít hầu dưới đến cực trên tuyến giáp, đi kèm với TKTQT. ĐMGT cho nhánh dưới móng, nhánh ức đòn chủm, ĐM thanh quản trên, nhánh nhẫn giáp, và hai nhánh tận đến cực trên tuyến giáp là nhánh trước và nhánh sau. - Động mạch giáp dưới (ĐMGD) là nhánh ngắn và lớn nhất của thân giáp cổ, uốn cong vào trong giữa ĐM đốt sống và bao cảnh (bên dưới củ cảnh), rồi đi trước (hoặc phía sau) thân giao cảm.

Tiếp theo, ĐM đi xuống dưới cực dưới tuyến giáp và cho ra các nhánh ngắn gọi là nhánh tuyến. ĐM còn cho ra các nhánh hầu, các nhánh thực quản, các nhánh khí quản, ĐM thanh quản dưới, và ĐM cổ lên. - Động mạch giáp dưới cùng có nguyên ủy từ ĐM cánh tay đầu hoặc từ cung ĐM chủ đi lên phía trước khí quản vào eo tuyến giáp. luan an 11 - Tĩnh mạch tuyến giáp tạo nên một đám rối ở mặt trước ngoài mỗi thùy.

Từ đó xuất phát các tĩnh mạch giáp trên (TMGT) và tĩnh mạch giáp giữa (TMGG), đổ vào tĩnh mạch (TM) cảnh trong, và tĩnh mạch giáp dưới (TMGD) đổ vào TM tay đầu hoặc TM cảnh trong. TM giáp dưới cùng khi hiện diện thường đổ vào TM tay đầu trái hoặc TM chủ trên. Thần kinh liên quan tuyến giáp - Nhánh ngoài thần kinh thanh quản trên là một trong hai nhánh cùng của TK thanh quản trên, đi xuống dưới vận động cho cơ nhẫn giáp và cảm giác phần dưới thanh quản [3],[11]. - Thần kinh thanh quản quặt ngược chạy ngược lên đi trong rãnh khí thực quản.

Khi đến thanh quản, thần kinh (TK) đổi tên thành TK thanh quản dưới vận động cho các cơ thanh quản. Ngoài ra nó còn chi phối cảm giác cho cả phần dưới thanh quản [3],[11]. Các nghiên cứu về mạch máu tuyến giáp và TK liên quan tuyến giáp. Mạch máu tuyến giáp 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Giải phẫu mạch máu và thần kinh tuyến giáp trên người Việt Nam trưởng thành" của tác giả Nguyễn Phi Hùng, dưới sự hướng dẫn của Nguyễn Công Minh, được thực hiện tại Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh vào năm 2022. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích cấu trúc giải phẫu của mạch máu và thần kinh liên quan đến tuyến giáp ở người trưởng thành Việt Nam, từ đó cung cấp những thông tin quý giá cho lĩnh vực y học, đặc biệt là trong phẫu thuật và điều trị các bệnh lý liên quan đến tuyến giáp.

Bài luận án không chỉ giúp nâng cao hiểu biết về giải phẫu tuyến giáp mà còn mở ra hướng nghiên cứu mới cho các chuyên gia y tế trong việc cải thiện kỹ thuật phẫu thuật và điều trị. Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến y học và giải phẫu, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu như "Kháng Sinh Dự Phòng Trong Mổ Lấy Thai Tại Bệnh Viện Hùng Vương", nơi nghiên cứu về kháng sinh trong phẫu thuật, hay "Nghiên cứu chỉ số tương hợp tâm thất động mạch ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát", cung cấp cái nhìn sâu sắc về mạch máu trong cơ thể. Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về "Luận án tiến sĩ về đặc điểm lâm sàng và điều trị bệnh tăng sinh tủy ác tính giai đoạn 2015-2018", giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các bệnh lý liên quan đến hệ thống máu.

Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn đa chiều hơn về các vấn đề trong lĩnh vực y học và giải phẫu.