ĐẶT VẤN ĐỀ Sâu răng là một trong những bệnh phổ biến ở Việt Nam và thế giới (1). Ở trẻ em, bệnh có thể gặp từ khi trẻ bắt đầu mọc răng. Bệnh sâu răng không thể tự thoái lui, nếu không có biện pháp điều trị kịp thời sẽ tiến triển vào tủy răng gây đau đớn cho trẻ, có thể biến chứng nhiễm trùng tại chỗ làm ảnh hƣởng đến sức khỏe toàn thân nhƣ sụt cân (do trẻ ăn uống kém), bệnh hô hấp, khớp, tim mạch, viêm xoang và có thể gây mất răng sớm, ảnh hƣởng ăn nhai khớp cắn (2). Mặt khác, răng sữa bị sâu và phải nhổ sớm, răng vĩnh viễn sẽ khó mọc lên hoặc mọc không đúng vị trí, mọc lệch.
Trên thế giới, tỷ lệ sâu răng của trẻ từ 1 đến 5 tuổi dao động trong khoảng 22% đến 69% (3-5). Tại Việt Nam, tỷ lệ sâu răng của trẻ cũng khoảng từ 50% đến 65% (6-8) và đa số chƣa đƣợc điều trị phù hợp. Giai đoạn trẻ 3 tuổi là giai đoạn đã phát triển đầy đủ hàm răng sữa, giai đoạn trẻ đến học tập trung tại các trƣờng mầm non công lập và tƣ thục. Ở lứa tuổi này, trẻ bƣớc đầu có thể tập chải răng, nhận biết đƣợc hình ảnh và sự tƣ vấn chăm sóc răng miệng.
Tuy nhiên, việc dự phòng và điều trị bệnh răng miệng gặp khá nhiều khó khăn do trẻ còn nhỏ. Bên cạnh việc tăng cƣờng fluor hoặc sử dụng vecni-fluor trong chăm sóc răng miệng, khả năng phòng chống bệnh răng miệng ở lứa tuổi này phụ thuộc rất nhiều vào kiến thức, thái độ, hành vi của cha mẹ thông qua hƣớng dẫn, giám sát trẻ chải răng và đƣa trẻ đi khám răng định kì. Mặc dù vậy, nhiều nghiên cứu cho thấy chăm sóc răng miệng ở trẻ chƣa đƣợc quan tâm đúng mức do cha mẹ thiếu hiểu biết và hoặc thiếu quan tâm (9, 10). Một số nghiên cứu trên thế giới cho thấy, trẻ có cha mẹ có nhận thức và hành vi vệ sinh răng miệng đúng có tỷ lệ mắc sâu răng thấp hơn so với những trẻ có ba mẹ không có hành vi chăm sóc răng miệng đúng cách (11, 12).
Do đó, nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành của cha mẹ về thực hành chăm sóc răng miệng cho trẻ 3 tuổi là một trong những ƣu tiên quan trọng nhằm góp phần làm giảm nguy cơ mắc bệnh sâu răng ở trẻ thuộc nhóm tuổi này. Trên thế giới, việc áp dụng y tế điện tử (ehealth) trong nâng cao sức khỏe cộng đồng là một trong những phƣơng pháp đang ngày càng phổ biến (13). Một số 2 nghiên cứu trên thế giới đƣợc thực hiện đã chứng minh tiếp cận sử dụng các tin nhắn điện thoại đạt hiệu quả cao trong việc nâng cao kiến thức-thái độ-thực hành của cha mẹ trong chăm sóc răng miệng ở trẻ nhỏ (14, 15). Việt Nam nằm trong số những nƣớc có tốc độ gia tăng số lƣợng thiết bị di động nhanh nhất.
Thống kê cho thấy đến cuối năm 2017 có 84% ngƣời Việt Nam sử dụng điện thoại di động (16). Tuy nhiên, chƣa có nghiên cứu nào tiến hành thử nghiệm các can thiệp truyền thông thông qua tin nhắn điện thoại cho cha mẹ trẻ và sử dụng vecni fluor tại chỗ cho trẻ mầm non trong dự phòng và điều trị sâu răng giai đoạn sớm tại Việt Nam. Tại Hà Nam, hiện có 117 trƣờng mầm non với gần 53 nghìn học sinh (17). Thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam là thành phố đang có sự phát triển về kinh tế-xã hội, có sự giao thoa giữa thành thị và nông thôn; tuy nhiên, việc chăm sóc sức khỏe răng miệng cho trẻ 3 tuổi chƣa thực sự đƣợc chú trọng.
Hiện nay, chƣa có đề tài hay nghiên cứu nào về sâu răng và dự phòng sâu răng của học sinh mẫu giáo tại thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Câu hỏi nghiên cứu đƣợc đặt ra là: Thực trạng sâu răng ở trẻ 3 tuổi là nhƣ thế nào? Kiến thức, thái độ và thực hành trong dự phòng sâu răng ở trẻ của cha mẹ ở mức độ nhƣ thế nào? Biện pháp can thiệp bôi vecni flour kết hợp với tin nhắn điện thoại có tác dụng nhƣ thế nào trong dự phòng sâu răng ở trẻ? Nghiên cứu : “Đánh giá hiệu quả can thiệp dự phòng sâu răng sữa ở trẻ 3 tuổi tại một số trường mầm non thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam” đƣợc thực hiện nhằm giải quyết vấn đề trên. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành của cha/ mẹ trẻ 3 tuổi học tại bốn trƣờng mầm non công lập thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam trong dự phòng sâu răng cho trẻ năm 2020.
Mô tả thực trạng sâu răng của trẻ 3 tuổi học tại bốn trƣờng mầm non công lập thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam năm 2020. Đánh giá hiệu quả của hoạt động can thiệp dự phòng sâu răng cho trẻ 3 tuổi tại hai trƣờng mầm non công lập thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sâu răng ở trẻ ba tuổi 1.
Khái niệm, đặc điểm giải phẫu răng Sâu răng sớm ở trẻ đƣợc định nghĩa “là tình trạng xuất hiện một hoặc nhiều tổn thƣơng sâu (có thể đã hình thành lỗ sâu hoặc chƣa), mất răng (do sâu răng), các mặt răng sâu đã đƣợc trám trên bất kỳ răng sữa nào ở trẻ nhỏ hơn 72 tháng tuổi” (18, 19). Thuật ngữ “sâu răng sớm ở trẻ” đƣợc đề xuất năm 1994 do Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ tổ chức nhằm thúc đẩy các sáng kiến phòng chống sâu răng dựa theo nhiều yếu tố (gồm nhân khẩu học, kinh tế xã hội, hành vi, tâm lý, v…v…) nhƣ tuổi thay vì chỉ tập trung duy nhất vào yếu tố chế độ ăn (20). Hội đồng chuyên gia tại Hội nghị thƣợng đỉnh toàn cầu Bangkok về Sâu răng sớm ở trẻ đã xác định rõ hơn sâu răng là một bệnh phức tạp đƣợc đặc trƣng bởi quá trình hủy khoáng và tái khoáng của các mô cứng răng, đƣợc xác định bởi các yếu tố sinh học, hành vi và tâm lý xã hội của một cá nhân liên kết với môi trƣờng xung quanh ngƣời đó. Mô tả lâm sàng của Ban Hội thẩm về sâu răng sớm ở trẻ đã tái khẳng định định nghĩa năm 1999 là “sự hiện diện của một hoặc nhiều tổn thƣơng đã bị sâu (không sâu hoặc có hốc), bị mất (do sâu răng), hoặc bề mặt đã đƣợc lấp đầy, ở bất kỳ răng chính nào của trẻ dƣới sáu tuổi” (21).
Hội nghị cũng nhận định sâu răng sớm ở trẻ em trƣớc tuổi đi học là bệnh phổ biến, hầu hết không đƣợc điều trị và ảnh hƣởng sâu sắc đến cuộc sống của trẻ (21). Đặc điểm giải phẫu răng: Răng là 1 bộ phận nằm trong hệ thống nhai. Hệ thống nhai bao gồm răng, nha chu, xƣơng hàm, khớp thái dƣơng hàm, các cơ nhai, các dây thần kinh, mạch máu, hệ thống tuyến nƣớc miếng, hệ thống môi- má – lƣỡi. Cơ quan răng đƣợc coi là đơn vị cấu tạo và chức năng của bộ răng, bao gồm răng và nha chu: răng là bộ phận chính, trực tiếp nhai nghiền thức ăn, gồm men răng, ngà răng và tủy răng.
Mỗi răng có phần thân răng và chân răng. Giữa phần thân răng và chân răng là đƣờng cổ răng (cổ răng giải phẫu), còn gọi là đƣờng nối men cement. 5 Thân răng đƣợc bao bọc bởi men răng, chân răng đƣợc cement bao phủ. Nha chu là phần mô mềm bao trong miệng, bao quanh xƣơng ổ răng, răng và giữ kín răng.
Mô nha chu bao gồm mô lợi dính và mô lợi tự do, có tác dụng bao bọc và nâng đỡ răng đứng vững trên cung hàm. Lợi răng bao quanh cổ răng tạo thành bờ, gọi là cổ răng sinh lý. Phần răng thấy đƣợc trong miệng là thân răng lâm sàng. Thân răng bao gồm men, ngà răng và tủy răng.
Giải phẫu Răng (18, 19) 1. Căn nguyên và hậu quả của sâu răng 1. Căn nguyên Mảng bám răng Sâu răng phát triển khi mảng bám răng - là một màng sinh học đa vi khuẩn, không đƣợc loại bỏ thƣờng xuyên và chế độ ăn uống bao gồm chủ yếu là đƣờng đơn monosaccharide. Monosaccharide có thể đƣợc chuyển hóa bởi nhiều vi khuẩn đƣờng miệng dẫn đến tăng sản xuất axit có khả năng hủy khoáng men răng (22).
Có hơn 700 loài vi khuẩn và các vi sinh vật đƣợc biết đến trong khoang miệng (23) và các vi sinh vật trong miệng có thể tƣơng tác với nhau (24). Ngày nay, các nghiên cứu cho thấy không chỉ vi khuẩn, mà cả nấm, chẳng hạn nhƣ Candida albicans cũng có thể gây sâu răng (25, 26). Mảng bám răng trên men răng của trẻ em trên lâm sàng chủ yếu bao gồm liên cầu và xạ khuẩn (27). Với chế độ ăn ít đƣờng, các vi khuẩn đạt đƣợc sự cân bằng và tự kiểm soát lẫn nhau trong môi 6 trƣờng khoang miệng (28).
Ngay khi tiêu thụ đƣờng, đặc biệt là thức ăn và đồ uống có đƣờng, hệ vi sinh vật hội sinh sẽ hấp thụ các phân tử đƣờng này và chuyển hóa chúng thành axit, chủ yếu là axit lactic (29). Sự sản xuất axit này dẫn đến sự thay đổi pH từ khoảng 7 (trung tính) sang pH <5,5 (có tính axit) (30). Vi khuẩn chịu axit, chủ yếu là liên cầu khuẩn đột biến, có thể sống sót trong môi trƣờng axit này. Nếu thói quen vệ sinh răng miệng và thói quen dinh dƣỡng không thay đổi, lƣợng đƣờng tiêu thụ vẫn ở mức cao thì rất khó hạn chế các vi sinh vật gây bệnh (ví dụ liên cầu khuẩn đột biến, Candida spp.
Chế độ ăn Nhƣ trên đã đề cập, đƣờng đóng một vai trò quan trọng trong sự hình thành sâu răng (32). Các nghiên cứu cho thấy trẻ bị sâu răng sớm thƣờng xuyên uống nƣớc trái cây giữa bữa ăn và ăn thức ăn đặc có đƣờng hơn so với nhóm chứng không bị sâu răng. Ngoài ra, một số nguyên nhân khác bao gồm: trẻ ngủ bú bình có nguy cơ mắc sâu răng sớm cao hơn do lƣợng nƣớc bọt bị giảm trong khi ngủ (33, 34). Tuy nhiên, nếu cho bú kéo dài, vệ sinh răng miệng kém, men răng kém phát triển có khả năng làm tăng nguy cơ mắc sâu răng sớm.
Một nghiên cứu tổng quan hệ thống cho tháy, nếu cho con bú sữa mẹ ban đêm lâu hơn 12 tháng có thể làm tăng nguy cơ sâu răng sớm (35). Đặc điểm răng của trẻ Sự mất toàn vẹn bề mặt răng do gián đoạn phát triển men răng hiện đƣợc công nhận là một yếu tố nguy cơ chính gây ra sâu răng sớm (36, 37).