Chương 1 trình bày tổng quan về đề tài. Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết. Chương 3 trình bày về phương pháp nghiên cứu. Chương 4 tổng quan về văn hóa An toàn người bệnh tại Bệnh viện Từ Dũ.
Chương 5 trình bày về kết quả nghiên cứu và bàn luận. Cuối cùng là Chương 6 trình bày kết luận nghiên cứu, đề xuất giải pháp, hướng mở rộng nghiên cứu và những hạn chế của đề tài. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này, tác giả trình bày các khái niệm về an toàn người bệnh, văn hóa an toàn người bệnh, và tầm quan trọng của an toàn người bệnh với những mối liên hệ mật thiết với con người và hệ thống. Phần lược khảo các nghiên cứu liên quan sẽ được trình bày lồng ghép vào các phần trên.
An toàn người bệnh Tai biến (Adverse event) là sự cố gây nguy hại cho bệnh nhân ngoài ý muốn, xảy ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chăm sóc người bệnh chứ không phải do bệnh lý hoặc cơ địa bệnh nhân gây ra. Tai biến điều trị được phân thành 3 mức độ như sau: thứ nhất là nhóm tai biến nặng đòi hỏi người bệnh phải được cấp cứu hoặc phải can thiệp sâu về điều trị nội khoa/ngoại khoa, gây mất chức năng vĩnh viễn hoặc gây tử vong cho người bệnh; thứ hai là nhóm tai biến trung bình đòi hỏi can thiệp điều trị, kéo dài thời gian nằm viện, và ảnh hưởng đến chức năng lâu dài, và cuối cùng là nhóm tai biến nhẹ, người bệnh tự hồi phục, chỉ cần điều trị tối thiểu hoặc không cần điều trị. Sự cố suýt xảy ra (Near miss) là sự cố có khả năng gây nguy hại cho người bệnh nhưng đã không xảy ra do may mắn có hành động sữa chữa hoặc can thiệp kịp thời. Sai sót là thất bại trong việc thực hiện một hành động đã được lập kế hoạch dự kiến hoặc áp dụng kế hoạch sai hay có sự khác biệt giữa những gì làm được trong thực tế và những gì lẽ ra phải ra làm được (Runciman B, 2007).
Sai sót cũng được phân loại như sau, bao gồm sai sót chủ động (active error) là sai sót xảy ra trong quá trình trực tiếp chăm sóc bệnh nhân; sai sót tiềm ẩn (latent error) liên quan đến các yếu tố của môi trường chăm sóc tạo điều kiện thuận lợi cho sai sót chủ động dễ xảy ra. Sức khỏe là trạng thái khỏe mạnh về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không chỉ là không mắc bệnh hoặc ốm yếu. Chăm sóc sức khỏe là các dịch vụ mà cá nhân và cộng đồng nhận được để nâng cao, duy trì, giám sát hoặc phục hồi sức khỏe. 6 An toàn người bệnh là sự phòng ngừa các sai sót có thể gây nguy hại cho người bệnh trong quá trình điều trị và chăm sóc (WHO, 2001).
An toàn người bệnh là một chuyên ngành trong lĩnh vực y tế, áp dụng các phương pháp an toàn nhằm hướng đến mục đích xây dựng một hệ thống cung ứng dịch vụ y tế đáng tin cậy (AHRQ, 2004). An toàn người bệnh còn là một thuộc tính của ngành y tế, nó tối thiểu hóa các sự cố và tối đa hóa sự phục hồi từ các sự cố. An toàn người bệnh ngày nay được xem là một môn học trong khoa học quản lý bao gồm các nguyên lý chính về an toàn người bệnh như sau, cách tiếp cận hệ thống, văn hóa không buộc tội, tư duy yếu tố con người vào môi trường làm việc tạo nên một hệ thống khó mắc lỗi và văn hóa an toàn người bệnh. Nguyên lý tiếp cận hệ thống, hệ thống là một thuật ngữ được dùng để mô tả bất kỳ tập hợp nào gồm hai hoặc nhiều thành phần tương tác với nhau, hoặc “một nhóm sự vật/thành phần độc lập tạo thành một thể thống nhất (WHO, 2011).
Công tác chăm sóc sức khỏe là một hệ thống phức tạp, vì chăm sóc y tế hiếm khi do một cá nhân thực hiện mà nó phụ thuộc lẫn nhau giữa các nhân viên y tế (Washington, 2005). Chăm sóc người bệnh an toàn và hiệu quả phụ thuộc không chỉ vào kiến thức, kỹ năng và hành vi của các nhân viên y tế trực tiếp điều trị cho bệnh nhân, mà cả vào cách thức các nhân viên đó hợp tác và liên lạc với nhau trong môi trường làm việc. Nói cách khác, bệnh nhân phụ thuộc vào việc nhiều người làm đúng việc và đúng thời điểm. Tức là họ phụ thuộc vào hệ thống chăm sóc.
Không những vậy, chăm sóc y tế còn là hoạt động rất phức tạp do sự đa dạng của các nhiệm vụ liên quan đến cung ứng chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân, sự đa dạng về bệnh nhân, bác sĩ, nữ hộ sinh, điều dưỡng và các nhân viên khác; rồi còn vô số các mối quan hệ giữa bệnh nhân, thân nhân người bệnh, nhân viên y tế, các nhà quản lý, và cộng đồng; cũng như những khác biệt trong cách bố trí các khoa/phòng, hay tạo dựng các qui định chồng chéo, không thống nhất hoặc không có qui định cũng tạo nên vô số rắc rối, phức tạp trong vận hành hệ thống. Hay như chưa kể đến một hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị, vật tư tiêu hao, công nghệ kỹ thuật mới đa dạng và phức tạp. Điều đó cũng tạo nên nhiều cơ hội mắc lỗi và nhiều sai sót hơn (Runciman, 2007). Do vậy, tất cả nhân viên trong cơ sở y tế cần 7 hiểu bản chất phức tạp trong hệ thống y tế để tránh đổ lỗi cho những cá nhân trực tiếp liên quan đến tai biến, sự cố, sai sót mà không nhận ra rằng luôn có nhiều yếu tố khác góp phần và qua đó giúp phân tích, đề xuất giải pháp phòng ngừa biến cố bất lợi tránh lặp lại lỗi tương tự về sau.
Tóm lại, cách tiếp cận hệ thống buộc chúng ta phải từ bỏ văn hóa đổ lỗi, buộc tội để hướng tới cách tiếp cận hệ thống. Ví như khi phân tích nguyên nhân của tai biến điều trị đòi hỏi phải đi tìm các sai sót của cả một hệ thống chứ không chỉ dừng ở sai sót cá nhân hay nói cách khác là phải tìm cho ra những lỗi tiềm ẩn trong hệ thống bên cạnh lỗi chủ động đã được phát hiện. Văn hóa buộc tội là cách tiếp cận truyền thống khi có sự cố, tai biến, sai sót xảy ra. Văn hóa đổ lỗi, văn hóa buộc tội là một cách tiếp cận con người rất mạnh mẽ và cũng rất tự nhiên (Reason, 1990).
Mỗi khi xảy ra tai biến, câu hỏi đầu tiên thường gặp là “Ai? Ai làm sai?” (Who’s wrong ?), và thường có khuynh hướng qui trách nhiệm liên quan đến cá nhân, người trực tiếp chăm sóc người bệnh ở thời điểm gây ra tai biến. Với cách tiếp cận này, thường sẽ tạo ra tâm lý che giấu sai sót và ngại báo cáo. Hậu quả là các sai sót có thể lặp đi lặp lại ở các cá nhân khác hoặc ở khoa khác do bệnh viện không biết và đương nhiên chưa có giải pháp chủ động phòng ngừa. Bên cạnh đó, xét đến khía cạnh tâm lý của cá nhân liên quan, dù người bị quy trách nhiệm có vai trò gì trong quá trình dẫn đến sự cố đi chăng nữa, có rất ít khả năng là hành động của người đó là cố ý gây tổn hại người bệnh mà phần lớn họ thường rất buồn vì nghĩ rằng hành động của họ hoặc việc họ không hành động đã có thể góp phần gây ra sự cố.
Và điều họ không cần đến nhất là bị trừng phạt. Theo cách tiếp cận hệ thống nêu trên, để có thể nhận diện hết những sai sót liên quan đến tai biến bao gồm sai sót chủ động và sai sót tiềm ẩn, tốt nhất tìm hiểu xem chuyện gì đã xảy ra và vì sao lại xảy ra? Giúp nhận diện những nguyên nhân hoặc yếu tố có liên quan, từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục. Với cách tiếp cận như vậy, không những làm giảm sự e ngại khi báo cáo sai sót mà còn giúp bệnh viện chủ động phòng ngừa các sai sót lặp đi lặp lại. 8 Yếu tố con người trong văn hóa an toàn người bệnh.
Ủy ban về an toàn và chất lượng chăm sóc sức khoẻ của Úc (2005), yếu tố con người công nhận bản chất của con người là có thể mắc sai lầm. Ngành hàng không là một ví dụ tốt về ngành công nghiệp đã ứng dụng nghiên cứu về yếu tố con người như một cách tiếp cận để nâng cao an toàn. Từ giữa thập niên 1980, ngành hàng không đã chấp nhận khả năng phạm lỗi của con người là điều không thể tránh khỏi và thay vì đòi hỏi con người phải luôn hoàn thiện, và có biện pháp trừng phạt sai sót một cách công khai, thì ngành công nghiệp này đã thiết kế các hệ thống để giảm thiểu tác động của sai sót do con người gây ra. Kỷ lục về an toàn của ngành hàng không ngày nay là minh chứng cho cách tiếp cận đó, mặc dù mỗi năm trung bình có 10 triệu lượt máy bay cất cánh và hạ cánh, nhưng từ năm 1965 đến nay trên toàn thế giới mỗi năm trung bình chỉ xảy ra chưa đến 10 vụ máy bay rơi và thường xảy ra ở các nước đang phát triển theo một báo cáo của Hiệp hội An toàn và chất lượng cơ sở y tế của Úc (2006).
Hoạt động chăm sóc y tế cũng phải học hỏi kinh nghiệm từ các ngành công nghiệp khác vì con người không phải là những cỗ máy, con người dễ bị mất tập trung. Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh có mối liên quan mạnh mẽ giữa sự mệt mỏi và áp lực với mức độ thực hiện công việc kém của con người, một yếu tố nguy cơ trong an toàn người bệnh (Pilcher, 1996; Weinger, 2002; Flin, 2008). Cũng như làm việc kéo dài nhiều giờ liền có ảnh hưởng tiêu cực tới khả năng hoạt động của con người tương đương như tác động của nồng độ cồn trong máu 0,05 mmol/l, là mức qui định không được phép lái xe ở nhiều nước (Dawson, 1997). Chúng ta không thể loại bỏ bản chất có thể mắc lỗi của con người (Kohn, 1999), song chúng ta có thể hành động để giảm bớt và hạn chế nguy cơ.
Điều quan trọng đối với tất cả nhân viên y tế là phải nhận diện được các tình huống làm tăng khả năng xảy ra sai sót (Vincent, 2001). Vì vậy, việc tạo dựng môi trường làm việc, một hệ thống khó mắc lỗi giúp hạn chế khả năng gây sai sót của con người như sau.