phần mở đầu, nội dung chính, kết luận-khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Trong đó nội dung chính gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu. Chương 2: Nhu cầu và thực trạng hỗ trợ người sống với HIV tại PKNT Hoàng Mai. Chương 3: Ứng dụng quản lý trường hợp trong hỗ trợ người sống với HIV tại PKNT Hoàng Mai.
19 CHUONG 1: CO SO LY LUAN VA THUC TIEN CUA NGHIEN CUU 1. Cac khai niém 1. HIV/AIDS và điều tri ARV HIV là từ viết tắt của cum từ tiếng Anh “Human Immunodeficiency Virus” có nghĩa là “vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người”. Các nhà nghiên cứu xác định có hai chủng vi rút HIV: HIV-1 và HIV-2.
Ở Việt Nam, các trường hợp nhiễm HIV-1 là chủ yếu. Một người có thể đồng thời bị lây nhiễm cả hai loại vi rút HIV [2, tr. AIDS là từ viết tắt của cụm từ “Acquired Immuno Deficiency Syndrome” có nghĩa là “Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải”. “Mắc phải” nghĩa là không phải do bam sinh, cũng không phải do di truyền mà do bi lây truyền từ người sang người; “Miễn dịch” là hệ thống bảo vệ cơ thể; “Suy giảm” nghĩa là không hoạt động đúng cấp độ và “Hội chứng” nghĩa là một nhóm các dấu hiệu và triệu chứng.
AIDS là nhiễm HIV ở giai đoạn cuối [2, tr. Điều trị ARV: ARV là viết tắt của từ “Antiretroviral”, có nghĩa là “Thuốc kháng retro vi rút”. Thuốc ARV là loại thuốc kháng vi rút được sử dụng trong điều trị HIV. Văn bản hướng dẫn hiện hành của Bộ Y tế ban hành kèm theo Quyết định số 5456/QĐ-BYT ngày 20/11/2019 nêu rõ: điều trị ARV nhằm mục đích ức chế tối đa và lâu dài quá trình nhân lên của HIV trong cơ thể, phục hồi chứng năng miễn dịch, giúp giảm nguy cơ mắc bệnh và tử vong liên quan đến HIV, dự phòng lây truyền HIV từ người nhiễm sang người khác và dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con.
Người có HIV dương tính cần được điều trị ARV ngay khi người bệnh được chân đoán nhiễm HIV, phối hợp đúng cách ít nhất 3 loại thuốc ARV và đảm bảo tuân thủ điều trị hàng ngày, liên tục cũng như suốt đời.2 Người sống với HIV Cụm từ “người sống với HIV” trong luận văn này nhằm đề cập đến những người đã được chân đoán HIV dương tính qua xét nghiệm khang định HIV. Trên thực tế, trong các báo cáo, văn bản hiện đang sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ những người đã được chân đoán HIV dương tính. Luật phòng, chống nhiễm vi 20 rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (Luật số 64/2006/QH11 của Quốc hội) và một số văn bản liên quan sử dụng cụm từ “người nhiễm HIV” hoặc một số tài liệu khác sử dụng các cụm từ “người nhiễm HIV/AIDS” hoặc “người sống với HIV/AIDS” và “người có HIV/AIDS”. Nghiên cứu này sử dụng các cụm từ “người sống với HIV” hoặc “người có HIV dương tính” theo như tài liệu “Hướng dẫn sử dụng thuật ngữ của UNAIDS” [19, tr.
Trong một số trường hợp, luận văn có sử dụng cụm từ “người nhiễm HIV” khi đề cập đến nội dung hoặc trích dẫn liên quan đến văn bản theo như cách dùng từ của các văn bản này. Các hướng tiếp cận lý thuyết 1. Lý thuyết nhu cầu Abraham Maslow (1908-1970) đã xây dựng học thuyết về nhu cầu của con người vào những năm 1950. Trong lý thuyết của ông, nhu cầu của con người được sắp xếp theo một thứ bậc nhất định từ thấp đến cao theo tính đòi hỏi và thứ tự phát sinh, trong đó nhu cầu bậc thấp được thỏa mãn trước và tiếp đó là sự xuất hiện, thúc đây con người hoạt động để thỏa mãn các nhu cầu bậc cao hơn.
Ở thời điểm ban đầu, Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc. Sau đó, sự phân cấp này được điều chỉnh thành 7 bậc, 8 bậc và cuối cùng là 9 bậc, về cơ bản van là cụ thể hóa của 5 nhu cầu ban đầu. Đó là các nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được quý trọng và nhu cầu được thể hiện mình. Sự hiểu biết về thứ bậc nhu cầu của Maslow giúp NVQLTH xác định được những nhu cầu nao trong hệ thống thứ bậc nhu cầu của khách hàng còn chưa được thỏa mãn ở thời điểm hiện tại và cần hỗ trợ đáp ứng.
NVQLTH cũng hiểu được con người có những nhu cầu khác nhau bao gồm cả nhu cầu vật chất và tinh thần. Người sống với HIV thường chịu những ảnh hưởng tâm lý xã hội bắt đầu sớm khi có chân đoán ban đầu và phát sinh trong cả thời gian bệnh. Những ảnh hưởng phô biến có thé liên quan đến y tế (không chắc chắn về tiến triển của bệnh, tuôi tho trung bình, nguy cơ thất bại điều trị, tác dụng phụ, các van đề về sức khỏe tâm thần), kinh tế (mat việc do phân biệt đối xử, bệnh tật không làm việc được, mat tiền dành dụm do phải điều trị), cảm xúc (mất sự tự trọng bản thân, sợ chết, mất đi sự 21 yêu quý, cô đơn, tội lỗi, sợ bị bỏ rơi), xã hội (cô lập với gia đình và cộng đồng do kỳ thị và ruồng bỏ, sợ bị tiết lộ) [6, tr. Có thé thấy với những ảnh hưởng tâm ly xã hội như trên, người sống với HIV có thể có một hoặc nhiều nhu cầu khác nhau.
Những nhu cầu chung của người có HIV bao gồm: tư vấn trước và sau xét nghiệm máu; khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe; chế độ dinh dưỡng phù hợp dé chống lại bệnh tật; trang bị kiến thức về HIV; yêu thương, chia sẻ từ gia đình, cộng đồng; tạo điều kiện về việc làm, tôn trọng và bình đăng tiếp cận các dịch vụ xã hội; hỗ trợ vượt qua các rao cản tâm lý, xã hội [12, tr. Việc nắm được nhu cầu của khách hang trong từng bối cảnh cụ thé sẽ giúp NVQLTH biết làm thế nào dé lập kế hoạch can thiệp phù hợp với từng trường hợp khách hàng. Thứ bậc trong thang nhu cầu của Maslow giúp NVQLTH lưu tâm trong kế hoạch hỗ trợ khách hàng trong việc giải quyết những vấn đề ưu tiên ở bậc thang nhu cầu thấp trước và hướng dần đến các bậc thang nhu cầu cao hơn. Trường hợp khách hàng không có khả năng thỏa mãn nhu cầu cơ bản, việc kết nối với các nguồn lực là cần thiết dé hỗ trợ khách hàng.2 Lý thuyết hệ thống sinh thái Có 2 dạng thuyết hệ thống nổi bật được dé cập trong CTXH là lý thuyết hệ thống tổng quát và lý thuyết hệ thống sinh thái và sự hình thành hai nhóm lý thuyết này xuất phát từ lịch sử hình thành lý thuyết, còn trong ứng dụng thường được kết hợp [11, tr.
Lý thuyết hệ thống sinh thái trong CTXH ứng dụng lý thuyết sinh thái và hệ thống sinh thái. Lý thuyết hệ thống sinh thái coi các sinh vật tồn tại với nhau trong môi trường sinh thái và có tác động lên nhau cũng như tác động vào môi trường và chịu sự tác động trở lại của môi trường [11, tr. Day được coi là lý thuyết quan trọng, nói lên sự liên kết giữa các hệ thống và vai trò của các cá nhân trong môi trường xã hội. Hành vi và sự phát triển của mỗi cá nhân được đặt trong bối cảnh một chuỗi hệ thống các mối quan hệ tạo nên môi trường sinh thái của con người ấy [11, tr.
110] trong đó: Cấp độ vi mô: hệ thống và nhóm có ảnh hưởng trực tiếp đến thân chủ như gia đình, bạn bè, trường học, hàng xóm, dịch vụ y tế. 22 Cấp độ trung mô nội sinh: mối quan hệ giữa các thành tố của cấp độ vi mô. Cấp độ trung mô ngoại sinh: bối cảnh xã hội gián tiếp ảnh hưởng thân chủ. Cấp độ vĩ mô: văn hóa mà con người sống trong đó gồm các yếu tố: kinh tế, văn hóa, xã hội, nghẻo đói.
Quản lý trường hợp được cho là một cách tiếp cận sinh thái - nhìn vào hệ sinh thái nơi một cá nhân/gia đình sinh sống và hành vi của con người được lý giải một cách tốt nhất như là một hệ thống-tập trung vào hành vi của con người và những trải nghiệm trong các hệ thống phức hợp [26, tr. Lý thuyết này giúp cho NVQLTH phân tích thấu đáo sự tương tác giữa khách hàng với hệ thống sinh thái - môi trường xã hội mà họ đang sinh sông và mức độ ảnh hưởng như thế nào đến hành vi của khách hàng trong đời sống xã hội. Mỗi cá nhân đều có một môi trường sông và một hoàn cảnh sống, chịu tác động của các yếu tổ trong môi trường sống và cũng ảnh hưởng đến môi trường xung quanh của họ. Như vậy các cá nhân và các yếu tố liên hệ lẫn nhau rat chặt chẽ.
Dé hiểu một yếu tố nào đó trong môi trường cần nghiên cứu cả hệ thống môi trường xung quanh họ, vì vậy bat cứ việc can thiệp hoặc giúp đỡ khách hàng của NVQLTH đều liên quan và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống đó. Lý thuyết hệ thống sinh thái cũng có ảnh hưởng rất nhiều đến các phương thức thực hiện trong quan lý trường hợp. NVQLTH vẽ sơ đồ sinh thái cùng với khách hang. Khách hàng/gia đình khách hàng cũng hiểu và nhận thức rõ hơn các van đề của họ.3 Lý thuyết vai trò xã hội Sự ra đời của thuyết vai trò xã hội được cho rằng có sự đóng góp lớn của khoa học xã hội học và tâm lý học va có ý nghĩa lớn trong thực hành CTXH.
Có hai lý thuyết về vai trò: lý thuyết cấu trúc chức năng và lý thuyết vai tuồng (trò đời) [5, tr. Lý thuyết cấu trúc chức năng cho rằng “mỗi người có một vi trí trong cau trúc xã hội. Mỗi vị trí trong cấu trúc đều có một vai trò gan với nó. Bởi vay, vai trò được định nghĩa là một tập hợp các mong đợi hoặc hành vi gan voi một vi trí trong cau trúc xã hội” [5, tr.
Trong một tình huống hoặc bối cảnh sẵn có, vai trò giúp chỉ ra những hoạt động cần thiết đòi hỏi phải có và cụ thê cách thức nhằm đạt được mục tiêu và hoàn thành nhiệm vụ [7, tr. Lý thuyết về vai tuồng thi coi “vai trò 23 là hành động đối với sự mong đợi của xã hội về một trạng thái xã hội nhất định” [5, tr.93] và những mong muốn đối mỗi vai trò thì khác nhau nhưng phù hợp với vai trò mà cá nhân thực hiện hoặc thé hiện trong cuộc sống hàng ngày. Một hành vi có thê chấp nhận ở vai trò này nhưng không được chấp nhận ở vai trò khác [7, tr.