Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về hợp tác công - tư trong lĩnh vực y tế. Cơ sở khoa học về hợp tác công - tư trong lĩnh vực y tế. Thực trạng triển khai hợp tác công - tư trong lĩnh vực y tế trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
Giải pháp tăng cường hợp tác công - tư trong lĩnh vực y tế trên địa bàn Thành phố Hà Nội. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ HỢP TÁC CÔNG - TƯ TRONG LĨNH VỰC Y TẾ Hợp tác giữa khu vực công và khu vực tư nhân để cung cấp hàng hóa và dịch vụ phục vụ nhu cầu của công dân và xã hội không phải là một nội dung mới trong lĩnh vực cải cách khu vực công trên phạm vi toàn cầu [6, tr. Hiện nay, đã có nhiều nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau đề cập tới vấn đề này cả ở Việt Nam và trên thế giới. Tuy nhiên, ở Việt Nam, PPP vẫn đang còn là một lĩnh vực nghiên cứu tương đối mới, hiện tại mới chỉ được đề cập và quan tâm tới chủ yếu như một giải pháp huy động các nguồn vốn của khu vực tư nhân tham gia vào cung cấp các dịch vụ và hạ tầng cơ sở trong một vài năm gần đây.
Trong số này, có thể chỉ ra một số nghiên cứu chủ yếu sau đây: 1. Các công trình nghiên cứu của nước ngoài có liên quan đến hợp tác công - tư trong lĩnh vực y tế 1. Các công trình nghiên cứu về hợp tác công - tư - Ấn phẩm “Cẩm nang hợp tác công - tư” (dịch từ bản tiếng Anh Public - Private Partnership Handbook) do Ngân hàng Phát triển Châu Á (The Asian Development Bank - ADB) phát hành năm 2008 [86] định nghĩa khá rõ nét về PPP và cung cấp những nội dung tổng quan về vai trò, thiết kế, cấu trúc và cách thức thực hiện mối quan hệ đối tác giữa các chủ thể nhà nước và các đơn vị trong khu vực tư nhân, trước hết trong lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng.“Nghiên cứu đã chỉ ra việc thu hút các nguồn lực ở khu vực tư trong quá trình hợp tác giữa nhà nước và tư nhân là không hề dễ dàng, đồng thời nhà nước cần nhận thức rõ về vai trò là nhà đầu tư cùng với tư nhân trong quá trình triển khai dự án, thay vì chỉ quan tâm đến vai trò QLNN của mình.” - Nghiên cứu của Viện Khoa học Lao động và Xã hội “PPP trong lĩnh vực an sinh xã hội” (Pubic - Private Partnership in Social Protection) do Đặng Kim Chung và Mathias Meissner thực hiện [26]. Nghiên cứu này cung cấp một cái nhìn tổng quan và tương đối hệ thống về mô hình PPP trong lĩnh vực an sinh xã hội qua việc chọn lựa xem xét một số mô hình điển hình.
Báo cáo tổng quan của nghiên cứu này bên cạnh việc đề cập tổng quan tới lịch sử phát triển của mô hình PPP về an sinh xã hội 9 và xem xét vấn đề thiết kế mô hình PPP, đã tiến hành phân tích và đánh giá mô hình PPP trong từng lĩnh vực cụ thể của an sinh xã hội như bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội và một số lĩnh vực khác trong hệ thống an sinh xã hội. Báo cáo đồng thời đã đưa ra các đánh giá về triển vọng của mô hình PPP trong lĩnh vực bảo đảm an sinh xã hội ở Việt Nam trong thời gian tới. Chan, Esther Cheung và Yongjian Ke trong nghiên cứu “Critical success factors for PPPs in infrastructure developments: Chinese perspective” (tạm dịch: Các yếu tố cơ bản quyết định thành công đối với PPP trong phát triển hạ tầng cơ sở: Kinh nghiệm của Trung Quốc) công bố trên Journal of Construction Engineering and Management (Volume 136, Issue 5, 2010) [84] đã phân tích điều kiện để triển khai các dự án PPP và xác định các yếu tố chủ yếu để thực hiện thành công một dự án PPP trong lĩnh vực hạ tầng cơ sở trên cơ sở đánh giá các dự án hạ tầng cơ sở đã và đang được triển khai ở Trung Quốc. Kết quả cho thấy 18 yếu tố quan trọng có thể được nhóm thành 5 yếu tố cơ bản bao gồm: (1) Môi trường kinh tế vĩ mô ổn định; (2) Sự chia sẻ trách nhiệm giữa khu vực công và khu vực tư nhân; (3) Quy trình mua sắm minh bạch và hiệu quả; (4) Môi trường chính trị và xã hội ổn định; và (5) Sự kiểm soát hiệu quả của chính phủ.
Heinze và Christoph Strünck (1998), khi nghiên cứu về PPP trong Cẩm nang cải cách hành chính (Handbuch zur Verwaltungsreform - tiếng Đức), [106] đã tập trung phân tích sự ra đời của mô hình PPP trên thế giới nói chung và ở Cộng hòa Liên bang Đức nói riêng; chỉ ra những lợi ích mà PPP có thể mang lại và những khó khăn có thể gặp phải khi thực hiện các dự án PPP. Nhóm tác giả cũng khẳng định việc triển khai các dự án PPP ở các quốc gia khác nhau trong những thời điểm khác nhau sẽ không giống nhau và mỗi quốc gia cần có sự nghiên cứu, xem xét cẩn thận trước khi quyết định triển khai mô hình này. Cộng đồng châu Âu (European Commission) trong Guidelines for successful public-private partnerships (tạm dịch là: Sổ tay hướng dẫn thực hiện thành công các dự án PPP) xuất bản tại Brussels (tháng 3/2003) (European Commission, 2003) [93] và Hammami, Mona/Ruhashyankiko, Jean-Francois/Yehoue, Etiene B. trong Báo cáo Determinants of Public - Private Partnerships in Infrastructure (tạm dịch là: Các yếu tố quyết định tới PPP trong lĩnh vự hạ tầng cơ sở) (IMF Working Paper, tháng 4/2006) 10 [92] bên cạnh việc xác định khung lý thuyết cho PPP đã có những hướng dẫn cụ thể cho việc thực hiện các dự án PPP trong thực tế.
Các nghiên cứu này đã chỉ ra những khó khăn có thể gặp phải trong quá trình triển khai các dự án PPP và chia sẻ kinh nghiệm để khắc phục. - Sau cuộc khủng khoảng tài chính năm 2008, các chuyên gia tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa PPP và khủng hoảng, điển hình như nghiên cứu của Plum (2009), Micheal (2010), Yelin (2010), Lyer và Mohammed (2010). Các nghiên cứu đều đi đến kết luận: với các điều kiện của thị trường kinh tế hiện nay thì loại hình PPP sẽ không thể bị loại trừ, đồng thời với những bài học sau khủng hoảng tài chính thì hình thức PPP ngày sẽ càng phù hợp hơn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia. Tại Việt Nam, các tổ chức quốc tế đã phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức Hội thảo với các báo cáo mang tính tổng quan, đưa ra các nhận định quan trọng và tạo lập diễn đàn trao đổi về PPP ở Việt Nam, điển hình như: - Hội thảo “Quan hệ đối tác công, tư trong việc cung cấp dịch vụ cơ sở hạ tầng cho người nghèo ở Việt Nam” do ADB tổ chức tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh (2006).
Hội thảo đã phân tích tương đối rõ nét vai trò và thực tiễn triển khai các dự án PPP trong việc cung cấp cơ sở hạ tầng phục vụ cho xóa đói, giảm nghèo ở nước ta do ADB tài trợ. - Hội thảo “Phát triển và cung cấp tài chính cho cơ sở hạ tầng đô thị” do Bộ Tài chính và Ngân hàng Thế giới (World Bank - WB) tổ chức tại Hà Nội ngày 19/4/2012; - Hội thảo “Thực hiện đối tác công, tư: Kinh nghiệm và đề xuất” do Viện Nghiên cứu Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh và Công ty Cổ phần Sài gòn Truyền thông tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 17/7/2012; - Để có những cách tiếp cận khoa học về việc huy động các nguồn lực đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng của quốc gia, Bộ Tài chính Việt Nam đã phối hợp với Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development - OECD), WB, ADB và một số đối tác quốc tể tổ chức hội thảo “Đầu tư lâu dài vào cơ sở hạ tầng”, Hội thảo tổ chức tại Ninh Bình vào ngày 17/5/2017. Tham dự Hội thảo có đại diện của 21 nền kinh tế thành viên Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương và các tổ chức quốc tế (OECD, ADB) đã tham dự hội thảo. Trong Hội thảo đã có nhiều thảo luận về các hình thức PPP, cũng như đề xuất 11 nhiều giải pháp huy động sự tham gia cho các dự án cơ sở hạ tầng; các kinh nghiệm phát triển dự án PPP và cơ chế phân bổ rủi ro của các dự án PPP cũng được đề cập và thảo luận… Những nghiên cứu nêu trên đây đã phản ánh được mối quan tâm của giới nghiên cứu hành chính và các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam đối với vấn đề PPP.
Tuy nhiên, các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc phân tích các dự án/lĩnh vực đơn lẻ, chưa bao quát vấn đề lý luận về PPP, do đó việc nghiên cứu tiếp tục vấn đề này ở tầm lý luận là điều cần thiết và cấp bách. Các công trình nghiên cứu liên quan đến hợp tác công - tư trong lĩnh vực y tế “Tại Hội thảo quốc tế của IPSA “PPPs in health care services of less developed countries” (tạm dịch là: PPP trong DVYT tại các nước kém phát triển) tại Quebec (Canada) năm 2008 [88], tác giả Bjorkman, James Warner đã mô tả rõ ràng các hình thức PPP trong lĩnh vực y tế, đồng thời xác định một số yếu tố và điều kiện cần thiết để cải thiện khi triển khai các dự án PPP trong lĩnh vực y tế ở các nước kém phát triển.” Nghiên cứu của GIZ (Cơ quan nghiên cứu phát triển quốc tế Đức) vào tháng 6/2018 “The health sector in Vietnam: Investment and PPP environment” (tạm dịch: Lĩnh vực y tế ở Việt Nam: Đầu tư và môi trường cho PPP) [95] đã tiến hành phân tích lĩnh vực y tế ở Việt Nam và xác định y tế là một lĩnh vực có tiềm năng lớn để triển khai mô hình PPP ở Việt Nam. Báo cáo cũng chỉ ra rằng, mặc dù có tiềm năng to lớn nhưng việc triển khai các dự án PPP trong y tế ở Việt Nam vẫn chưa thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư tư nhân và trong thực tế cũng chưa được triển khai mạnh mẽ. Môi trường đầu tư cho hình thức đầu tư này cũng đã được thiết lập ở Việt Nam và đang dần được hoàn thiện nhưng vẫn chưa đủ hấp dẫn và cũng còn nhiều bất cập.