Mở đầu - Phần 2: Nội dung - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận - Chƣơng 2: Đánh giá thực trạng nhập và quản lý việc nhập TTBYT cùng việc thẩm định công nghệ y tế tại Việt Nam Phần A: Kết quả khảo sát Phần B: Bàn luận - Chƣơng 3: Xây dựng mô hình cơ quan thẩm định công nghệ y tế - Kết luận và khuyến nghị - Danh mục tài liệu tham khảo - Phụ lục 9 z PHẦN 2 - NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. NHỮNG KHÁI NIỆM SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI 1. Định nghĩa công nghệ. Có thể nói công nghệ xuất hiện đồng thời với sự hình thành xã hội loài ngƣời.
Từ “công nghệ” xuất phát từ chữ Hy Lạp “Teknve - Techne” có nghĩa là một công nghệ hay một kỹ năng; Và “λoyoσ - logos” có nghĩa là một khoa học, hay sự nghiên cứu. Nhƣ vậy, thuật ngữ Technology (Tiếng Anh) hay Technologie (Tiếng Pháp) có nghĩa là khoa học về kỹ thuật hay sự nghiên cứu có hệ thống về kỹ thuật và thƣờng đƣợc gọi là công nghệ học. Trong thực tế, do sự phong phú, đa dạng của công nghệ khiến những ngƣời sử dụng một số công nghệ cụ thể trong những điều kiện hoàn cảnh không giống nhau dẫn đến khái quát của họ về công nghệ khác nhau. Bên cạnh đó, sự phát triển vũ bão của công nghệ làm thay đổi nhiều quan niệm cũ dẫn đến có nhiều định nghĩa hay khái niệm về công nghệ nhƣ sau [14]: - Theo Tổ chức phát triển Công nghệ của Liên hợp quốc UNIDO: “Công nghệ là việc áp dụng khoa học về công nghiệp bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống và phƣơng pháp”.
Với định nghĩa này thì Công nghệ đƣợc hiểu với bản chất là “kiến thức khoa học”. - Theo tác giả Baranson - 1976: “Công nghệ là tập hợp các kiến thức về một qui trình hoặc các kỹ thuật chế biến cần thiết để sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh”. Ở định nghĩa này bản chất công nghệ là tập hợp các kiến thức với mục tiêu là sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm công nghiệp. - Theo quan điểm của Sharif -1986: “Công nghệ bao gồm khả năng sáng tạo, đổi mới và lựa chọn từ những kỹ thuật khác nhau và sử dụng chúng một cách tối ƣu vào tập hợp các yếu tố bao gồm môi trƣờng vật chất, xã hội và văn hóa”.
Theo Sharif, công nghệ là tập hợp của “phần cứng” và 10 z “phần mềm”, gồm 4 dạng cơ bản: thể hiện ở dạng vật chất (vật liệu, công cụ, thiết bị, máy móc…), thể hiện ở dạng ghi chép (kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm…), thể hiện ở dạng thiết chế tổ chức (dịch vụ, phƣơng tiện truyền bá thông tin, cơ cấu quản lý…). - Theo quan điểm của Gaynor G: “Công nghệ bao gồm các phƣơng tiện để thực hiện đƣợc một nhiệm vụ, bao gồm tất cả những gì cần thiết để chuyển các nguồn lực trở thành các sản phẩm hoặc dịch vụ. Gồm kiến thức và các nguồn lực cần thiết để đạt đƣợc một mục tiêu nào đó. Là phần kiến thức khoa học và kỹ thuật có thể đƣợc áp dụng trong việc thiết kế sản phẩm hay các qui trình hoặc áp dụng trong việc nghiên cứu kiến thức mới”.
Với quan điểm nhƣ vậy, Gaynor đã sử dụng định nghĩa công nghệ là các phƣơng tiện để thực hiện đƣợc một nhiệm vụ, bao gồm tất cả những gì cần thiết để chuyển các nguồn lực thành sản phẩm hoặc dịch vụ khi đề cập đến vấn đề quản lý công nghệ. - Theo Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dƣơng - ESCAP [1],[11]: “Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin. Công nghệ bao gồm kiến thức, thiết bị, phƣơng pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ”. Theo định nghĩa này, công nghệ bao gồm 2 phần: phần “kiến thức” và phần “thiết bị”.
- Theo Luật Khoa học và Công nghệ của Việt Nam [13]: “Công nghệ là tập hợp các phƣơng pháp, qui trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phƣơng tiện dùng để biển đổi các nguồn lực thành sản phẩm”. Định nghĩa cho thấy công nghệ gồm hai thành phần: “kiến thức” và “công cụ, phƣơng tiện” để tạo ra các sản phẩm. Qua các định nghĩa nêu trên, với góc độ nhìn nhận khác nhau cho thấy có hai quan điểm cơ bản về công nghệ, gồm: - Công nghệ là “kiến thức”: dạng kiến thức, cách thức, sự áp dụng khoa học… và theo quan điểm này công nghệ là “phần mềm” mà không bao gồm “phần cứng” nhƣ: máy móc, thiết bị, công cụ sản xuất. 11 z - Công nghệ là “kiến thức” và “thiết bị”: ngoài phần kiến thức còn gọi là “phần mềm” nhƣ quan điểm nêu trên thì công nghệ còn bao gồm “phần cứng”: thiết bị, công cụ, tƣ liệu sản xuất, vật thể… Tóm lại, công nghệ có thể đƣợc hiểu nhƣ mọi loại hình kiến thức, thông tin, bí quyết, phƣơng pháp (phần mềm) đƣợc lƣu giữ dƣới các dạng khác nhau (con ngƣời, ghi chép…) và mọi loại hình thiết bị, công cụ, tƣ liệu sản xuất (phần cứng) và một số tiềm năng khác (tổ chức, pháp chế, dịch vụ…) đƣợc áp dụng vào môi trƣờng thực tế để tạo ra các loại sản phẩm và dịch vụ.
Trong luận văn sử dụng định nghĩa công nghệ theo quan điểm của Sharif. Các thành phần cơ bản của công nghệ[14]. - Phần kỹ thuật (Technoware - ký hiệu T): công nghệ hàm chứa trong các vật thể bao gồm các công cụ, thiết bị, máy móc, phƣơng tiện và các cấu trúc hạ tầng khác. Trong công nghệ sản xuất, các vật thể này thƣờng làm thành dây chuyền để thực hiện quá trình biến đổi (thƣờng gọi là dây chuyền công nghệ), ứng với một qui trình công nghệ nhất định, đảm bảo tính liên tục của quá trình công nghệ.
- Phần con ngƣời (Humanware - ký hiệu H): Công nghệ hàm chứa trong kỹ năng công nghệ của con ngƣời làm việc trong công nghệ bao gồm kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng do học hỏi, tích luỹ đƣợc trong quá trình hoạt động, nó cũng bao gồm các tố chất của con ngƣời nhƣ tính sáng tạo, sự khôn ngoan, khả năng phối hợp, đạo đức lao động… - Phần tổ chức (Orgaware - ký hiệu O): Công nghệ hàm chứa trong khung thể chế để xây dựng cấu trúc tổ chức, bao gồm những qui định về trách nhiệm, quyền hạn, mối quan hệ, sự phối hợp của các cá nhân hoạt động trong công nghệ, kể cả những qui trình đào tạo công nhân, bố trí sắp xếp thiết bị nhằm sử dụng tốt nhất phần kỹ thuật và phần con ngƣời. - Phần thông tin (Inforware - ký hiệu I): Có thể gọi thành phần này là công nghệ hàm chứa trong các dữ liệu đã đƣợc tƣ liệu hoá đƣợc sử dụng trong công nghệ, bao gồm các dữ liệu về phần kỹ thuật, về phần con ngƣời và phần tổ chức. Ví dụ, dữ liệu về phần kỹ thuật nhƣ: Các thông số về đặc 12 z tính của thiết bị, số liệu về vận hành thiết bị, để duy trì và bảo dƣỡng, dữ liệu để nâng cao và dữ liệu để thiết kế các bộ phận của phần kỹ thuật. Trong 04 thành phần trên, phần kỹ thuật đƣợc gọi là “phần cứng” của công nghệ, còn các phần: con ngƣời, tổ chức và thông tin đƣợc gọi là “phần mềm” của công nghệ.
Thẩm định công nghệ Thẩm định công nghệ là quá trình xem xét, đánh giá sự phù hợp của công nghệ (dự kiến đầu tƣ) so với nội dung và các mục tiêu của dự án đầu tƣ công nghệ trên cơ sở các chủ trƣơng, chính sách của Nhà nƣớc tại thời điểm thẩm định dự án, đồng thời bảo đảm tính hiệu quả của dự án đầu tƣ để xét đủ điều kiện tham mƣu cho cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tƣ hoặc tiến hành đầu tƣ.[9] Thẩm định công nghệ thực hiện theo Thông tƣ số 10/2009/TT-BKHCN ngày 24 tháng 4 năm 2009 của Bộ KHCN hƣớng dẫn thẩm tra công nghệ các dự án đầu tƣ, gồm các lĩnh vực chính: thẩm định công nghệ dự án đầu tƣ, đánh giá công nghệ, giám định TTB công nghệ. Thẩm định công nghệ dự án đầu tư: Là cơ sở hỗ trợ cho cơ quan phê duyệt dự án đầu tƣ hoặc chủ đầu tƣ xem xét về công nghệ để quyết định thực hiện dự án đầu tƣ. - Xem xét sự hoàn thiện của công nghệ: Tùy loại sản phẩm và phƣơng pháp sản xuất, sơ đồ công nghệ có thể khác nhau, nhƣng phải thể hiện đầy đủ các công đoạn trong dây chuyền sản xuất nhằm tạo ra đƣợc các sản phẩm đã dự kiến cả về số lƣợng và chất lƣợng. - Xem xét mức độ tiên tiến của dây chuyền công nghệ: Dây chuyền công nghệ đạt trình độ tiên tiến là dây chuyền sản xuất chuyên môn hoá, đƣợc tổ chức theo phƣơng pháp cơ khí - tự động hóa, trong đó có ứng dụng kỹ thuật số và ít nhất phải có 1/3 (một phần ba) tính theo giá trị các thiết bị tự động đƣợc điều khiển theo chƣơng trình; trên dây chuyền sản xuất không có các khâu lao động thủ công nặng nhọc; dây chuyền sản xuất đƣợc bố trí trong không gian đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh công nghiệp, an toàn lao động và vệ sinh môi trƣờng.
Đánh giá công nghệ: Là cơ sở hỗ trợ cho cơ quan quản lý hoặc chủ đầu tƣ xem xét về hiện trạng công nghệ của đơn vị theo yêu cầu. - Qua các phƣơng án công nghệ nêu trong dự án đầu tƣ, cần phân tích, so sánh ƣu nhƣợc điểm của từng phƣơng án và trên cơ sở xem xét tính hoàn thiện của công nghệ, mức độ tiên tiến của dây chuyền công nghệ, tính thích hợp của công nghệ với đơn vị đầu tƣ (về hiện trạng công nghệ của đơn vị) để nhận xét về phƣơng án công nghệ đƣợc chọn. Giám định TTB công nghệ: Là cơ sở hỗ trợ cho cơ quan quản lý hoặc chủ đầu tƣ về hiện trạng chất lƣợng, giá trị, tính đồng bộ…các TTB công nghệ theo yêu cầu. - Thiết bị trong dây chuyền công nghệ đƣợc xem xét trên cơ sở thiết bị đó có tính năng, chất lƣợng phù hợp với yêu cầu của công nghệ nhằm tạo ra sản phẩm có chất lƣợng và số lƣợng nhƣ dự kiến.
- Tính đồng bộ của thiết bị trong dây chuyền công nghệ (danh mục các thiết bị của dự án đầu tƣ phải thể hiện khả năng thực hiện các công đoạn trong dây chuyền công nghệ, đáp ứng yêu cầu về số lƣợng, chất lƣợng các sản phẩm). Chất lƣợng và quản lý chất lƣợng 1.