ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay vấn đề chất lượng trong chăm sóc khám chữa bệnh rất được quan tâm. Kết quả cận lâm sàng nói chung và xét nghiệm nói riêng đóng góp hơn 70% đến các quyết định lâm sàng, vì vậy đảm bảo chất lượng xét nghiệm là vấn đề thiết yếu [15]. Quá trình xét nghiệm được chia thành 3 giai đoạn chính là trước phân tích, trong phân tích và sau phân tích; và lỗi có thể xảy ra ở bất cứ giai đoạn nào [21]. Một nghiên cứu tại Ý năm 2007 cho thấy tỉ lệ sai sót trong 3 quá trình lần lượt là 61,9%, 15% và 23,1% [9].
Các sai lỗi trong giai đoạn phân tích thường khó xác định. Xét nghiệm cho bệnh nhân thường chỉ được thực hiện 1 lần, không có chuẩn mực để so sánh, vì vậy khó có thể biết được độ chính xác hay tin cậy ở mức độ nào. Muốn biết tính chính xác của kết quả đó, thường phải chạy lặp lại, hoặc so sánh với một phương pháp tiêu chuẩn. Việc này không thực tế trong hoạt động thường quy của các khoa xét nghiệm lâm sàng.
Các chương trình nội kiểm tra (IQC) và ngoại kiểm tra (EQA) xét nghiệm hiện được áp dụng giúp kiểm soát chất lượng của quá trình phân tích. Nó cũng là một quy định bắt buộc trong tiêu chuẩn quốc tế như ISO 15189, CAP hay tiêu chuẩn quốc gia Quyết định 2429/QĐ-BYT, EQA và IQC là hai quá trình bổ sung cho nhau. Tuy EQA và IQC đều rất quan trọng trong việc kiểm soát chất lượng xét nghiệm, các chương trình này chỉ mang ý nghĩa thiên về định tính, mỗi phương pháp lại có những vấn đề riêng. Ngoài ra theo hướng dẫn của Westgard trong thực hành IQC đúng, cần phải chọn thực hành IQC cho từng xét nghiệm riêng lẻ, trên cơ sở chất lượng xét nghiệm, được tính từ độ chụm và độ chính xác quan sát được của xét nghiệm đó [45].
Sigma là một phương pháp giúp đánh giá định lượng hiệu suất của một quá trình, theo tỉ lệ cơ hội lỗi trên một triệu cơ hội (DPM) và đạt hiệu suất lý tưởng nhất là 6 Sigma trở lên, nghĩa là ít hơn 3,4 DPM [12]. Six sigma đã bắt đầu được áp dụng nhiều thập kỷ trước, đặc biệt trong sản xuất công nghiệp, như. Motorola và General Electrolic, nhưng mãi đến năm 2000 mới có bài báo về áp dụng Six sigma đầu tiên trong lĩnh vực y tế. Trong lĩnh vực xét nghiệm, Sigma được áp dụng để đánh giá chất lượng xét nghiệm trong cả 3 giai đoạn trước, trong và sau phân tích.
Đối với các giai đoạn trước và sau phân tích, Sigma được tính dựa trên số lỗi đếm được. Tuy nhiên, đối với giai đoạn phân tích, rất khó để xác định và đếm lỗi, Westgard đã đề xuất cách tính thang điểm Sigma (Sigma Metrics) để đánh giá chất lượng xét nghiệm trong giai đoạn phân tích [55]. Giá trị Sigma của xét nghiệm được tính theo công thức: Sigma metrics = (TEa – Bias)/CV [42], [56]. Do Sigma Metrics dễ tính, định lượng được, dễ theo dõi và có thể cải tiến được, ngày càng có nhiều khoa xét nghiệm sử dụng công cụ này để đánh giá chất lượng của các xét nghiệm huyết học, sinh hoá, miễn dịch hay các xét nghiệm về men (enzyme) [17], [31], [37], [62].
Hơn nữa, thông qua việc đánh giá thang điểm Sigma, KXN đánh giá được chất lượng xét nghiệm đang sử dụng, để có kế hoạch về hoạt động nội kiểm tra chất lượng xét nghiệm, nghĩa là đưa ra quyết định về số luật kiểm soát, số lượng nồng độ sử dụng kiểm soát, tần suất thực hiện kiểm soát [3], [4], [5], [7], [24], [33], [38], [61]. Ngoài ra, tổ chức Hóa học lâm sàng và Y học quốc tế (IFCC), khuyến nghị các KXN, khi chọn phương pháp HbA1c mới, nên sử dụng các số liệu Sigma để đánh giá chất lượng phương pháp, để đưa ra các quyết định lựa chọn phù hợp [59]. Tuy nhiên, việc ứng dụng công cụ này trong kiểm soát, đặt biệt trong cải tiến chất lượng xét nghiệm ở Việt Nam còn khá mới. Chính vì vậy, trong nghiên cứu này, chúng tôi muốn “Nghiên cứu ứng dụng Six sigma trong kiểm soát chất lượng phòng xét nghiệm hoá sinh”.
Trong đó, chúng tôi sẽ định lượng chất lượng phương pháp đang sử dụng, từ đó có kế hoạch kiểm soát cũng như cải tiến nâng cao chất lượng xét nghiệm tại khoa. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 1. Thang điểm Six sigma được sử dụng như thế nào trong kiểm soát chất lượng xét nghiệm? 2. Chất lượng xét nghiệm có thể cải tiến không và vai trò của thang điểm Sigma trong quá trình cải tiến chất lượng xét nghiệm hoá sinh như thế nào? MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Đánh giá thang điểm Six sigma các xét nghiệm hoá sinh của phòng xét nghiệm; 2. Phân tích nguyên nhân gốc rễ, đề xuất và thực hiện các biện pháp cải tiến chất lượng xét nghiệm; 3. Đánh giá thang điểm Six sigma và xem xét hiệu quả giảm hao phí sau cải tiến. Tổng quan về quản lý chất lượng xét nghiệm Kết quả xét nghiệm rất quan trọng để chẩn đoán và quản lý tình trạng bệnh nhân, khoảng 70% các quyết định lâm sàng được đưa ra dựa trên các kết quả cận lâm sàng [15].
Nếu kết quả cận lâm sàng, hay xét nghiệm không chính xác và tin cậy sẽ đem đến những hậu quả không mong muốn cho bệnh nhân, như điều trị không cần thiết, biến chứng điều trị, không cung cấp điều trị thích hợp, trì hoãn chẩn đoán chính xác hay xét nghiệm chẩn đoán bổ sung không cần thiết [11]. Để tạo ra kết quả đáng tin cậy và chính xác, các phòng xét nghiệm cần áp dụng và quản lý hệ thống chất lượng nhằm mục đích đảm bảo chất lượng tốt nhất, đáp ứng các tiêu chuẩn bắt buộc của quốc gia hay quốc tế. Chất lượng Phòng xét nghiệm có thể được định nghĩa là độ chính xác, độ tin cậy và tính kịp thời của báo cáo kết quả xét nghiệm. Nghĩa là, kết quả xét nghiệm phải chính xác nhất có thể, và tất cả các khía cạnh vận hành của KXN phải đáng tin cậy, và kết quả phải được cung cấp kịp thời.
Về tính chính xác, khi thực hiện các phép đo, luôn có một số mức độ không chính xác, vì vậy nhiệm vụ của KXN phải làm là giảm mức độ không chính xác càng nhiều càng tốt [60]. KXN là một hệ thống phức tạp, bao gồm nhiều quá trình, quy trình ảnh hưởng tương hỗ, qua lại với nhau. Để đạt được mức độ chính xác và tin cậy cao nhất, các hoạt động, quy trình trong Khoa xét nghiệm phải đạt được mức tốt nhất có thể; một sai sót trong bất kỳ bước nào của quá trình cũng có thể dẫn đến kết quả không chính xác. Vì vậy, một hệ thống quản lý chất lượng, bao quát toàn bộ quá trình xét nghiệm, là cần thiết để đạt được chất lượng xét nghiệm tốt.
Hệ thống quản lý chất lượng được định nghĩa là hệ thống các hoạt động phối hợp với nhau để định hướng và kiểm soát 1 tổ chức đến chất lượng. Trong 1 hệ thống quản lý chất lượng, tất cả các khía cạnh vận hành KXN bao gồm cấu trúc tổ chức, quá trình, quy trình phải được xem xét để đảm bảo chất lượng. Do sự cần thiết trong vấn đề quản lý chất lượng xét nghiệm, nhiều tổ chức đã đưa ra các tiêu chuẩn dành riêng cho KXN, ví dụ, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Trung tâm Phòng chống Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), Viện Tiêu chuẩn Lâm sàng và Phòng xét nghiệm Hoa Kỳ (CLSI), Tổ chức Chất lượng quốc tế (ISO). Gần đây, nhằm nâng cao chất lượng của các KXN trong nước, Bộ Y Tế Việt Nam đã ban hành Quyết định số 2429/QĐ-BYT về Tiêu chí đánh giá mức chất lượng phòng xét nghiệm y học [1].
Giống với các tiêu chuẩn quốc tế khác, bộ tiêu chuẩn này được xây dựng dựa vào 12 thành tố tham gia và quyết định chất lượng của KXN (Hình 1.1) mô tả sơ đồ tương tác của 12 thành tố chất lượng, bao gồm: tổ chức; nhân sự; thiết bị; mua sắm và tồn kho; kiểm soát quá trình; quản lý thông tin; tài liệu và hồ sơ; quản lý sự không phù hợp, đánh giá; cải tiến liên tục; dịch vụ khách hàng; cơ sở vật chất và an toàn [1]. Trong 1 hệ thống quản lý chất lượng, tất cả 12 thành tố tham gia vào quyết định hệ thống quản lý chất lượng phải được và luôn được xem xét để đảm bảo kết quả xét nghiệm chính xác, tin cậy, kịp thời và chất lượng xuyên suốt các hoạt động vận hành của KXN. Nếu không áp dụng hệ thống quản lý chất lượng, KXN có thể có nhiều sai lỗi và sự cố có thể xảy ra nhưng không phát hiện được. Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng không đảm bảo 1 KXN không có sai lỗi nhưng sẽ tạo ra 1 KXN chất lượng cao có thể phát hiện sai lỗi và ngăn ngừa nó tiếp tục xảy ra.
Trong 1 hệ thống quản lý chất lượng, tất cả 12 thành tố tham gia vào quyết định hệ thống quản lý chất lượng phải được và luôn được xem xét để đảm bảo kết quả xét nghiệm chính xác, tin cậy, kịp thời và chất lượng xuyên suốt các hoạt động vận hành của KXN. Nếu không áp dụng hệ thống quản lý chất lượng, KXN có thể có nhiều sai lỗi và sự cố có thể xảy ra nhưng không. phát hiện được. Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng không đảm bảo 1 KXN không có sai lỗi nhưng sẽ tạo ra 1 KXN chất lượng cao có thể phát hiện sai lỗi và ngăn ngừa nó tiếp tục xảy ra.
12 thành tố tham gia và quyết định chất lượng phòng xét nghiệm “Nguồn: Bộ Y tế, 2012” [1] Kiểm soát quá trình là 1 trong 12 thành tố tham gia vào quyết định chất lượng KXN. Quá trình xét nghiệm thường được phân thành 3 giai đoạn: trước xét nghiệm, trong xét nghiệm và sau xét nghiệm; và lỗi có thể xảy ra ở bất cứ giai đoạn nào (Hình 1. Các giai đoạn trong xét nghiệm “Nguồn: Hammerling J A, 2012”[21] Một nghiên cứu tại Ý năm 2007 cho thấy tỉ lệ sai sót trong 3 quá trình lần lượt là 61,9%; 15% và 23,1% [9]. Các sai lỗi thường gặp trong giai đoạn trước xét nghiệm bao gồm: lấy nhầm bệnh nhân, lấy sai loại mẫu, sai thể tích, mẫu tán huyết.
Dù chiếm gần 2/3 các sai lỗi trong quá trình xét nghiệm, các sai lỗi trước xét nghiệm này dễ dàng theo dõi, định lượng. Vì vậy, nhiều phương pháp đã được đề xuất giúp giảm các sai sót này trong quá trình xét nghiệm như: chuẩn hóa quy trình, tự động hóa, áp dụng công nghệ thông tin [24], [28].