CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC TRONG ĐƠN VỊ Y TẾ 1. Một số khái niệm liên quan 1. Nhân lực Nhân lực là một nguồn lực đặc biệt bởi tính đa dạng, phức tạp hơn nữa nhân lực có tính sáng tạo và có tiềm năng không giới hạn. Xét trong một tổ chức thì nhân lực là một trong các yếu tố đầu vào quan trọng nhất của quá trình cung cấp dịch vụ.
Nhân lực có mặt ở tất cả các bộ phận trong tổ chức, không có nhân lực hoạt động của tổ chức, đơn vị không thể thực hiện được. Với tầm quan trọng đó đã có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề nhân lực và có nhiều cách hiểu với góc độ nhìn nhận không giống nhau về vấn đề này. “Nhân lực là một nguồn lực quan trọng của mọi tổ chức. Trong doanh nghiệp, mỗi một người lao động đều được giao đảm nhận những công việc nhất định và có chức danh nhất định” (Theo tác giả Hoàng Văn Hải và Vũ Thùy Dương, 2010) Cũng có thể hiểu “Nhân lực là sức lực của con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động.
Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người có đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con người có sức lao động” (theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh, Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, 2012) Xét trên tầm vĩ mô của nền kinh tế, “Nhân lực là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm thể lực và trí lực” (theo Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm, 2015) Xét trên góc độ vi mô, trong từng đơn vị thì: Nhân lực được hiểu là “nguồn lực của mỗi con người được vận dụng trong quá trình lao động sản xuất ” mà yếu tố tạo ra nguồn lực này gồm có kiến thức, kỹ năng và phẩm chất. Dưới góc độ tiếp cận khác thì: “Nhân lực trong tổ chức/doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ những người làm việc trong tổ chức/doanh nghiệp được trả công, khai thác và sử dụng có hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức/doanh 7 nghiệp” (Mai Thanh Lan – Nguyễn Thị Minh Nhàn, 2016). Đề tài nghiên cứu nhân lực theo khía cạnh cá nhân người lao động làm việc trong một tổ chức hành chính sự nghiệp do đó Nhân lực được hiểu là: “Nhân lực là nguồn lực của mỗi con người, bao gồm thể lực, trí lực và phẩm chất nghề nghiệp của người lao động được đơn vị sử dụng khai thác có hiệu quả nhằm thực hiện các mục tiêu của đơn vị” 1. Nhân lực y tế Theo WHO (2006), nhân viên y tế là tất cả những người tham gia vào những hoạt động mà mục đích là nhằm nâng cao sức khỏe của người dân.
Cụ thể hơn, nhân viên y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế: bác sỹ, điều dưỡng, y tế công cộng, dược sỹ, kỹ thuật viên và những lao động gián tiếp khác như: kế toán, cấp dưỡng, lái xe, hộ lý… Theo cách hiểu về “nhân lực y tế” của WHO, ở nước ta nguồn lực lao động xem là “Nhân lực y tế” gồm có: “Các cán bộ, nhân viên y tế thuộc biên chế và hợp đồng đang làm trong hệ thống y tế công lập (bao gồm cả quân y), các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y/dược và tất cả những người khác đang tham gia vào các hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụ CSSK nhân dân (nhân lực y tế tư nhân, các cộng tác viên y tế, lang y và bà đỡ/mụ vườn)”. Với cách hiểu này, việc lập và triển khai các hoạt động quản trị nhân sự trong đó có hoạt động chất lượng nhân lực nhân lực y tế sẽ bao gồm toàn bộ “nhân lực y tế” theo cách hiểu đã nêu. Theo định nghĩa của Bộ Y tế “Nhân viên y tế là toàn bộ số lao động hiện đang công tác trong các cơ sở y tế (kể cả công và tư, kể cả biên chế và hợp đồng)”. Việc phân loại các nhân viên y tế tại Việt Nam dựa trên các tiêu chí về giáo dục và đào tạo nghề, quy định về chuyên môn y tế và các hoạt động, nhiệm vụ liên quan trong công việc.
Dưới góc độ tiếp cận của luận văn thì nhân lực y tế bao gồm các cán bộ nhân viên y tế tham gia trực tiếp vào hoạt động khám chữa bệnh thực hiện cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người dân và được đơn vị y tế trả lương. Với cách hiểu này đề tài giới hạn nghiên cứu nhân lực y tế trong đó không kể lao động làm công 8 tác hành chính như kế toán bệnh viện, lái xe cứu thương, những người thực hiện công tác vệ sinh trong đơn vị y tế… mà đề cập chủ yếu tới cán bộ y bác sĩ, dược sỹ tại bệnh viện. Chất lượng nhân lực y tế Chất lượng nhân lực là trạng thái nhất định của nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực. Đó là yếu tố phản ánh trình độ kiến thức, kỹ năng và thái độ của người lao động trong quá trình làm việc.
“Chất lượng nguồn nhân lực gồm trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý xã hội trong đó: Thể lực của nguồn nhân lực là sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần; Trí lực của nguồn nhân lực là trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng thực hành của người lao động; Phẩm chất tâm lý xã hội là kỷ luật, tự giác, có tinh thần hợp tác và tác phong công nghiêp, có tinh thần trách nhiệm cao…” (theo Bùi Văn Nhơn, 2010) “Chất lượng nhân lực của doanh nghiệp là mức độ đáp ứng nhu cầu nhân lực về mặt toàn bộ và về mặt đồng bộ (cơ cấu) các loại. Nhu cầu nhân lực cho hoạt động của doanh nghiệp là toàn bộ và cơ cấu các loại khả năng lao động cần thiết cho việc thực hiện, hoàn thành tốt nhất những nhiệm vụ của doanh nghiệp trong thời gian trước mắt và trong tương lai xác định” (theo tác giả Đỗ Văn Phức, 2004)) Theo Tạ Ngọc Hải, Viện khoa học tổ chức Nhà nước thì: “Chất lượng nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí tuệ, sự hiểu biết, trình độ, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ… của người lao động. Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng để xem xét và đánh giá chất lượng nguồn nhân lực”. Với các cách tiếp cận đã nêu cho thấy, chất lượng nhân lực y tế cấu thành từ các yếu tố sau: năng lực làm việc, phẩm chất nghề nghiệp và sức khỏe.
Trong đó khả năng thực hiện công việc và đạo đức trách nhiệm với công việc là hai yếu tố quan trọng để đánh giá chất lượng nhân lực y tế. Khả năng thực hiện công việc được hình thành thông qua những kiến thức, kỹ năng mà người lao động được đào tạo, học tập và tích lũy từ khi học ở các cấp đến khi 9 học ở các trường chuyên nghiệp và đi làm tích lũy được kinh nghiệm trong quá trình công tác. Đạo đức nghề nghiệp là việc người lao động ứng xử với cấp trên, cấp dưới, đồng nghiệp, bệnh nhân và người nhà của họ một cách phù hợp với tinh thần, thái độ hòa nhã, nhẹ nhàng, không có sự phân biệt về dân tộc, thu nhập hay vị trí trong xã hội. Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23 tháng 02 năm 2005 của Bộ Chính trị có nêu: Nghề y là một nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt.
Mỗi cán bộ, nhân viên y tế phải không ngừng nâng cao đạo đức nghề nghiệp và năng lực chuyên môn, xứng đáng với sự tin cậy và tôn vinh của xã hội, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Người thầy thuốc giỏi đồng thời phải là người mẹ hiền” Chính vì lẽ đó, yếu tố nhân lực làm việc tại các cơ sở y tế là nhân tố rất quan trọng bởi vì nó liên quan đến sức khỏe, tính mạng của con người. Do vậy, người lao động công tác tại các đơn vị y tế cần phải được “tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt”.4 Quản lý chất lượng nhân lực y tế: Để làm rõ quan điểm về chất lượng nhân lực nhân lực y tế trước hết tác giả đi sâu phân tích thuật ngữ “quản lý”. Quản lý là một khái niệm rất rộng gồm thế giới vô sinh như nhà xưởng, máy móc thiết bị, quản lý diễn ra trong cơ thể sống như cây trồng, vật nuôi… và diễn ra trong xã hội loài người như tổ chức đoàn thể, kinh tế… Dưới góc độ nghiên cứu của luận văn quản lý hướng đến đối tượng là con người trong hoạt động của đơn vị. Đến nay đã có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý Trước hết là quan điểm của một số tác giả nước ngoài.
Robert Albanese cho rằng: "Quản lý là một quá trình kỹ thuật và xã hội nhằm sử dụng các nguồn, tác động tới hoạt động của con người và tạo điều kiện thay đổi để đạt được mục tiêu của tổ chức". "Quản lý là tiến trình làm việc với và thông qua người khác để đạt các mục tiêu của tổ chức trong một môi trường thay đổi. Trong tâm của tiến trình này là 10 kết quả và hiệu quả của việc của việc sử dụng các nguồn lực giới hạn" (theo Robert Kreitner) Ở Việt Nam có một số tác giả đã đưa ra quan điểm của mình về quản lý như sau: "Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra" (theo tác giả Nguyễn Minh Đạo, 1997). "Quản lý là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có kết quả và hiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nguồn lực của tổ chức" (Khoa học quản lý, tập I, Trường ĐH KTQD, Hà Nội 2001).
Với nhiều góc nhìn khác nhau cho thấy quản lý luôn tồn tại hai nhóm đó là chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp từ chủ thể quản lý. Và mục đích của việc tác động đó là hướng đến đạt được mục tiêu chung của tổ chức.