CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu ngoại vi 1. Xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu ngoại vi Xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu ngoại vi (trước đây thường gọi là xét nghiệm công thức máu) là loại xét nghiệm định lượng cơ bản phản ánh trực tiếp hoặc gián tiếp tình trạng sinh lý hoặc một số bệnh lý của cơ thể, có khả năng cung cấp những bằng chứng sớm nhất về các thay đổi tình trạng sức khỏe và tiến triển bệnh lý (11, 12). Các thông số cơ bản của xét nghiệm tế bào máu ngoại vi: + SLHC và các chỉ số hồng cầu: S L H C , H S T , T T K H C , t h ể t í c h t r u n g b ì n h h ồ n g c ầ u , lượng huyết sắc tố trung bình hồng cầu, nồng độ huyết sắc tố trung bình hồng cầu;… + SLBC và các chỉ số bạch cầu: SLBC, Bạch cầu đoạn trung tính, bạch cầu lympho, bạch cầu Mono, bạch cầu ưa bazơ, bạch cầu ưa axit; + SLTC và các chỉ số tiểu cầu: SLTC, thể tích trung bình tiểu cầu, thể tích khối tiểu cầu;… Xét nghiệm tế bào máu ngoại vi là xét nghiệm nằm trong danh mục các xét nghiệm áp dụng để liên thông, công nhận kết quả xét nghiệm được ban hành theo quyết định số 3148/QĐ-BYT ngày 07/07/2017 của Bộ Y tế (13).
Các chỉ số đặc trưng nhất trong xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu ngoại vi bao gồm: đối với chỉ số hồng cầu tập trung vào số lượng hồng cầu (SLHC), lượng huyết sắc tố (HST) và thể tích khối hồng cầu (TTKHC); đối với chỉ số bạch cầu tập trung vào số lượng bạch cầu (SLBC) và đối với chỉ số tiểu cầu, tập trung vào số lượng tiểu cầu (SLTC). Các chỉ số này hiện nay đều được phân tích trên các thiết bị máy đếm tế bào tự động. Máy đếm tế bào máu ngoại vi Xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu ngoại vi hiện nay phần lớn được thực hiện trên các thiết bị đếm tế bào tự động, chúng hoạt động theo các nguyên lý sau: Nguyên lý trở kháng: trong buồng đếm của phương pháp đo trở kháng, dòng tế bào đi qua khe đo, hai bản điện cực dương và âm được đặt giữa hai bên của khe đếm và buồng đếm. Vì dung dịch máu là dung dịch dẫn điện nên nó có một tổng trở nhất định.
Khi một tế bào máu chạy vào khe đo, nó sẽ làm thay đổi tổng trở 5 giữa hai điện cực và dòng điện đi qua, làm cho hai điện cực thay đổi. Mỗi sự thay đổi này được thể hiện bằng một xung điện, tuỳ kích thước của tế bào mà xung điện cao hay thấp. Dựa vào đó ta biết được kích thước của tế bào. Nguyên lý Laser: phương pháp này dựa trên sự tán xạ ánh sáng khi cho tia sáng chiếu qua tế bào máu.
Góc tán xạ sẽ thay đổi và tỷ lệ nghịch với kích thước của tế bào máu. Mắt cảm nhận quang sẽ đo góc tán xạ và đưa ra kích cỡ của xung phù hợp. Số lượng xung tương ứng với số tế bào máu đã đi qua. Nguyên lý đo quang: Thuốc thử phân ly được sử dụng cho SLBC chuẩn bị máu để hệ thống có thể đếm bạch cầu và đo lượng huyết sắc tố.
Thuốc thử phân ly nhanh chóng và đồng thời phá hủy hồng cầu và chuyển một phần đáng kể huyết sắc tố thành một sắc tố ổn định trong khi để cho các hạt bạch cầu nguyên vẹn. Độ hấp thụ của sắc tố tỷ lệ thuận với nồng độ huyết sắc tố trong mẫu. Sau khi đếm SLBC, dung dịch pha loãng ly giải chảy vào cốc thủy tinh huyết sắc tố để đo HST. Máy DxH-800 là một thiết bị hoạt động kết hợp cả 3 nguyên lý (đo trở kháng, đo laser, đo quang) (14).
Về cơ bản, thiết bị bao gồm các bộ phận: Máy tính điều khiển; Màn hình cảm ứng để đọc kết quả; Khối phân tích mẫu; Các ngăn chứa hóa chất/bình thải và khối cung cấp áp lực, trong đó: (1) nguyên lý trở kháng để đo các thành phần: SLBC, SLHC, SLTC; (2) nguyên lý laser: đo cho 5 thành phần bạch cầu; (3) nguyên lý đo quang: đo HST. Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng theo quyết định 2429/QĐ-BYT của Bộ Y tế 1. Cách tính điểm cho bộ tiêu chí đánh giá chất lượng theo quyết định 2429/QĐ-BYT của Bộ Y tế Căn cứ vào tầm quan trọng của nội dung mỗi tiêu chí trong hệ thống quản lý chất lượng, mỗi tiêu chí có một thang điểm nhất định chia theo nội dung trong 12 chương. Tổng số điểm tối đa của bộ tiêu chí là 268, có 4 phương án trả lời là Đạt (Đ), Đạt một phần (ĐMP), Không áp dụng (KAD), Không đạt (KĐ) cho mỗi tiêu chí, tóm tắt cách thức tính điểm của các tiêu chí được trình bày trong Bảng 1.
Bảng hướng dẫn cách tính điểm của các tiêu chí Phương Viết Điểm Diễn giải án tắt Đạt Đ Đạt điểm tối đa Đạt các yêu cầu đủ các yêu cầu của tiêu chí cho mỗi tiêu chí Đạt một ĐMP ½ số điểm của ½ số điểm của tiêu chí nếu đạt được ít nhất phần tiêu chí hoặc 0 50% số lượng các tiểu mục của tiêu chí đó điểm - Nếu đạt dưới 50% số lượng các tiểu mục thì điểm của tiêu chí đó được tính là “0” Không KAD - Ghi rõ lý do kèm giải thích vào cột nhận xét áp dụng Không KĐ 0 điểm Ghi rõ lý do kèm giải thích vào cột nhận xét đạt 1. Cấu trúc bộ tiêu chí đánh giá chất lượng theo quyết định 2429/QĐ-BYT của Bộ Y tế Bộ tiêu chí có cấu trúc gồm 3 phần: (1) Phần thứ nhất là thông tin chung về PXN; (2) Phần thứ hai là nội dung đánh giá gồm 12 chương, 169 tiêu chí và các tiểu mục kèm theo; (3) Phần thứ ba là tóm tắt kết quả đánh giá, khuyến nghị và đề xuất kế hoạch thực hiện các hoạt động cải tiến.2 thống kê lại số tiêu chí trong 12 chương, số điểm tối đa, số tiêu chí (*) và (***) của từng chương trong Quyết định số 2429/QĐ-BYT. Bảng chi tiết số tiêu chí và số điểm của Quyết định số 2429/QĐ-BYT Số Số Số tiêu Điểm STT Nội dung tiêu tiêu chí tối đa chí chí * *** 1 Tổ chức - Quản trị PXN 15 23 1 0 2 Tài liệu - hồ sơ 8 10 0 1 3 Quản lý nhân sự 17 21 1 1 7 4 Dịch vụ- quản lý khách hàng 10 13 1 1 5 Quản lý trang thiết bị 19 30 2 1 6 Đánh giá nội bộ 9 13 0 1 Quản lý mua sắm vật tư, hóa chất và sinh 1 1 7 17 23 phẩm 8 Quản lý quá trình 27 57 6 5 9 Quản lý thông tin 6 11 0 1 Xác định sự không phù hợp, hành động 0 2 10 6 14 khắc phục phòng ngừa 11 Cải tiến liên tục 8 21 1 1 12 Cơ sở vật chất và an toàn 27 32 2 1 Tổng số 169 268 15 16 1. Nguyên tắc xếp loại mức chất lượng theo Quyết định số 2429/QĐ-BYT Chất lượng PXN khi đánh giá được chia thanh 5 mức với cách đánh giá như trên Bảng 1.
Cách đánh giá được căn cứ theo số điểm và tỷ lệ % so với điểm tối đa PXN đạt được sau khi đánh giá. Trong đó, số điểm PXN đạt được là tổng số điểm của các tiêu chí áp dụng. Tương ứng với mỗi mức chất lượng PXN cần phải đạt được điểm tối đa trong 1 số tiêu chí đã định (là những tiêu chí có đánh dấu *). Các mức đánh giá PXN theo Quyết định số 2429/QĐ-BYT Chưa xếp Mức 1 Mức 2 Mức 3 Mức 4 Mức 5 mức 8 65-<85% 85%-<95% 35%-<65% ≥95% điểm điểm tối đa điểm tối đa điểm tối đa tối đa và đạt 20%-<35% và đạt được và đạt được <20% điểm và đạt được được toàn bộ điểm tối đa toàn bộ các toàn bộ các hoặc chưa toàn bộ các các tiêu chí và đạt được tiêu chí bắt tiêu chí bắt đạt đủ các tiêu chí bắt bắt buộc cho toàn bộ các buộc cho buộc cho tiêu chí bắt buộc trong mức chất tiêu chí bắt mức chất mức chất buộc bảng kiểm lượng 3 trong buộc lượng 3 lượng 3 có đánh bảng kiểm trong bảng trong bảng dấu (*) (***) kiểm (***) kiểm (***) Tùy thuộc Tiếp tục Tiếp tục vào tình Cần khắc Cần khắc thực hiện thực hiện PXN khắc hướng cụ phục và phục và xét nghiệm xét nghiệm phục những thể, đoàn báo cáo cơ báo cáo cơ và khắc và khắc điểm tồn tại, đánh giá quan quản quan quản phục phục khuyến khích xem xét, lý trong lý trong những những tiến tới ISO cân nhắc, vòng 06 vòng 03 điểm tồn điểm tồn 15189 kiến nghị tháng tháng tại tại phù hợp Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng theo quyết định 2429/QĐ-BYT của Bộ Y tế giúp đánh giá toàn bộ hệ thống quản lý chất lượng, nhưng trong các tiêu chí đó, chưa đánh giá chi tiết chất lượng từng loại xét nghiệm.
Để hỗ trợ cho quá trình đánh giá chất lượng của PXN, một phương pháp cũng đã được nhắc đến rất nhiều hiện nay đó là Six- sigma. Đây là một phương pháp giúp PXN xác định rõ được hiệu năng của từng phương pháp, từng loại xét nghiệm mà PXN hiện tại đang sử dụng. Phương pháp Six- sigma 1. Lịch sử phát triển của Six- sigma Nguồn gốc của Six- sigma bắt đầu từ một khái niệm về chuẩn đo lường do nhà toán học người Đức Carl Friedrich Gauss (1777-1855) đưa ra khi giới thiệu về 9 mô hình phân bố chuẩn (15).
Nghiên cứu của Walter Shewhart (nhà vật lý, kỹ sư và là nhà thống kê học người Mỹ, được biết đến như cha đẻ của kiểm soát chất lượng bằng thống kê) về độ dao động của sản phẩm cho thấy, mức dao động 3 Sigma so với giá trị trung bình là điểm một quá trình đòi hỏi sự điều chỉnh (16). Sau này Six- sigma đã trở thành thương hiệu được đăng ký cấp liên bang của Motorola (17). Mikel Harry - một kỹ sư điện tử của Motorola đã lập ra một tiến trình chi tiết cho việc cải tiến mẫu mã sản phẩm, giảm thời gian sản xuất và chi phí sản xuất cho công ty Motorola. Bất kỳ một dự án cải tiến liên tục nào sử dụng phương pháp luận Six- sigma đều đi qua các bước tiến hành sau: Define (xác định), Measure (đo lường), Analyze (phân tích), Improve (cải tiến) và Control (kiểm soát), tiến trình này được viết tắt là DMAIC (12).