CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG VIÊN CHỨC Y TẾ TẠI CƠ SỞ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH 1. Một số vấn đề lý luận về viên chức y tế tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh 1. Khái niệm và phân loại viên chức y tế tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh 1. Khái niệm viên chức tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Theo Luật viên chức (2010): “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [12],[20].
Theo định nghĩa này thì viên chức phải là công dân Việt Nam, khi vào làm việc phải ký hợp đồng làm việc không phải hợp đồng lao động trong các đơn vị sự nghiệp công lập và hưởng lương theo quy định tại đơn vị sự nghiệp công lập [12]. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO): “Bệnh viện (BV) hay cơ sở khám chữa bệnh là một bộ phận không thể tách rời của một tổ chức xã hội và y tế, chức năng của nó là đảm bảo chăm sóc sức khỏe toàn diện cho nhân dân cả phòng bệnh và chữa bệnh, dịch vụ ngoại trú của bệnh viện phải vươn tới cả gia đình và môi trường cư trú” [28]. BV là nơi cung cấp dịch vụ khám, chẩn đoán, điều trị bệnh tật đồng thời cũng là trung tâm giảng dạy Y dược và nghiên cứu sinh học xã hội, nơi đào tạo và tiến hành các nghiên cứu Y dược, xúc tiến các hoạt động chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng. Chất lượng cung cấp các dịch vụ cũng được đòi hỏi cao hơn theo xu hướng sự tiến bộ của xã hội [28].
Người dân ngày càng ý thức được tầm quan trọng của vấn đề chăm sóc sức khỏe, nhận rõ hơn về quyền lợi của mình và đòi hỏi được hệ thống BV cung cấp dịch vụ tốt và toàn diện hơn. Viên chức y tế là công dân Việt Nam, được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập, hoạt động ngành nghề lĩnh 13 vực y tế theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động ngành nghề, lĩnh vực y tế theo quy định của pháp luật. Theo định nghĩa trên thì viên chức y tế là những viên chức hoạt động, làm việc trong lĩnh vực y tế tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh [12]. Phân loại viên chức y tế tại cơ sở khám chữa bệnh - Trong Luật viên chức 2010, có 2 cách chính phân loại để viên chức là theo chức trách, nhiệm vụ và theo trình độ đào tạo.
- Theo chức trách, viên chức được chia làm 2 loại như sau: viên chức quản lý và viên chức không giữ chức vụ quản lý [20]. - Theo trình độ đào tạo, viên chức giữ chức danh nghề nghiệp được chia làm 5 loại như sau: viên chức có trình độ đào tạo tiến sĩ; thạc sĩ, đại học, cao đẳng, trung cấp [20]. Đặc điểm viên chức y tế tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Ngành y tế là ngành đặc biệt quan trọng, luôn được chú trọng phát triển với sứ mệnh chăm sóc và bảo vệ sức khỏe người dân, ngành y tế luôn đòi hỏi cần một đội ngũ nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp [8]. Viên chức y tế ngoài có những đặc điểm chung của viên chức thì còn có những đặc điểm riêng như sau: Thứ nhất, Cán bộ y tế là người tham gia vào hoạt động chăm sóc sức khỏe và tiếp xúc trực tiếp với người bệnh.
Công việc của nhân viên y tế là công việc đặc thù, có tinh thần trách nhiệm cao, vì nó liên quan trực tiếp đến sức khỏe của người dân và tính mạng của người bệnh, có những tình huống cần nhiều người cùng thực hiện. Trong những tình huống phức tạp, cần có sự phối hợp của cả nhóm, với nhiều thành phần cùng làm việc để chăm sóc bệnh nhân [12]. Thứ hai, Đội ngũ y tế đều là những nhân viên có trình độ chuyên môn cao. Để hoàn thành sứ mệnh chăm sóc sức khỏe nhân dân cần có đội ngũ cán 14 bộ ngành y tế có năng lực và trình độ chuyên môn.
Vì liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của người bệnh nên làm việc trong lĩnh vực y tế đòi hỏi sự chính xác, tỉ mỉ cao hơn các lĩnh vực khác. Do trình độ chuyên môn cao hơn nên nhân viên y tế mất nhiều thời gian đào tạo hơn các ngành nghề khác [12]. Thứ ba, viên chức y tế có đặc thù riêng về đạo đức nghề nghiệp. Nghề y được phân biệt với các nghề khác bởi nghĩa vụ đạo đức mang tính đặc thù là chăm sóc, điều trị, cứu người, làm giảm nhẹ sự đau đớn của con người do bệnh tật và do các can thiệp y tế.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng răn dạy “Lương y như từ mẫu” để luôn nhắc nhở viên chức y tế trong quá trình thực hiện sứ mệnh chăm sóc sức khỏe bệnh nhân. Việc bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn y phải đi đôi với rèn luyện và trau dồi đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng ứng xử trong quá trình hoạt động luôn được chú trọng rèn luyện hằng ngày của mỗi viên chức y tế [6]. Thứ tư, do trình độ chuyên môn cao hơn nên nhân viên y tế mất nhiều thời gian đào tạo hơn các ngành nghề khác. Thời gian học đại học đối với bác sĩ là 06 năm, dược sĩ là 05 năm, bác sĩ nội trú là 09 năm; trong khi các ngành khác thời gian đào tạo đại học chỉ từ 04 đến 05 năm.
Hoàn thành kiến thức bậc đại học chỉ là kiến thức nền tảng. Đối với các Bác sĩ, Dược sĩ, Điều dưỡng, Hộ sinh và các Kỹ thuật viên y học việc hoàn thành kiến thức bậc đại học đó chỉ là cái nền tảng. Phải trải qua thời gian thực hành lâm sàng các kiến thức đã học dưới sự kiểm tra và hướng dẫn của viên chức đã có kinh nghiệm hành nghề tại cơ sở y tế để được cấp chứng chỉ hành nghề. Khi đã được cấp chứng chỉ hành nghề thì viên chức y tế mới được phép thực hiện nghiệp vụ của mình độc lập.
Tuy nhiên, các kiến thức và phương pháp trong y khoa luôn vận động, phát triển nhanh chóng đòi hỏi nhân viên y tế phải luôn cập nhật và 15 hoàn thiện kỹ năng chuyên môn để đáp ứng nhu cầu về chăm sóc sức khỏe của người dân ngày càng được nâng cao theo sự phát triển của xã hội [11]. Thứ năm, nhân viên y tế chịu áp lực về thời gian và môi trường làm việc. Viên chức ngành y có đặc thù riêng so với các loại lao động viên chức khác vì nó gắn với trách nhiệm rất lớn trước sức khỏe và tính mạng của bệnh nhân. Để tính mạng của bệnh nhân được đảm bảo an toàn có những thời điểm vàng nên phải hết sức khẩn trương giành giật từng phút để giữ lấy tính mạng người bệnh.
Bên cạnh đó thời gian làm việc liên tục theo ca kíp được quy định, thật ra nó không phù hợp với quy luật sinh lý của mỗi con người như là trực đêm, ngủ ngày hay ngược lại. Môi trường làm việc tại cơ sở y tế bắt buộc luôn phải thường xuyên tiếp xúc với bệnh nhân, nguồn lây bệnh, vi khuẩn, máu, hóa chất, chất thải y tế, độc hại và thậm chí với cả tử thi. Bệnh nhân là những người bị tổn thương sức khỏe thể chất và tinh thần, họ lo lắng, buồn phiền và dễ cáu gắt, bức xúc về tình trạng bệnh của mình. Có nhiều trường hợp bệnh nhân và người nhà bệnh nhân sẽ có thái độ không đúng mực với viên chức y tế khi điều kiện chữa trị tại cơ sở y tế không đáp ứng và không thỏa mãn được nhu cầu của họ.
Viên chức y tế làm việc trong môi trường căng thẳng, tiềm ẩn nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe cả về thể chất lẫn tinh thần của bản thân [11]. Viên chức y tế công tác trong các khoa lâm sàng hay cận lâm sàng đều có đủ tất cả các đặc điểm chung của viên chức ngành y tế. Chất lượng viên chức y tế tại cơ sở khám chữa bệnh 1. Khái niệm chất lượng, chất lượng viên chức y tế 1.
Khái niệm chất lượng Theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9000:2015: “Chất lượng sản phẩm và dịch vụ của tổ chức được xác định bằng khả năng thỏa mãn khách hàng và ảnh hưởng mong muốn và không mong muốn tới các bên quan tâm liên quan” [7]. 16 Theo Hiệp hội chất lượng Mỹ (ASQ – American Society for Quality) nhận định: “Chất lượng được định nghĩa tùy theo từng đối tượng hoặc lĩnh vực. Trong lĩnh vực kỹ thuật, chất lượng có nghĩa (1) đặc điểm của sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó, (2) sản phẩm hay dịch vụ không có khuyết điểm [33],[35]. Khái niệm chất lượng viên chức y tế, nâng cao chất lượng viên chức Viên chức y tế được xem xét cả dưới góc độ số lượng và khía cạnh chất lượng.
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về chất lượng viên chức y tế. Chất lượng viên chức y tế được thể hiện qua các mặt sau: Về tình trạng sức khỏe; về trình độ văn hóa; về trình độ chuyên môn – kỹ thuật; về năng lực thực tế và tri thức, về kỹ năng nghề nghiệp; về tính năng động xã hội (khả năng sáng tạo, thích ứng, linh hoạt, nhanh nhạy với công việc); về phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ đối với công việc và môi trường làm việc; về hiệu quả hoạt động lao động của nguồn nhân lực; Thu nhập, mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân của người lao động [26]. “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, là tố chất, bản chất bên trong của nguồn nhân lực, nó luôn có sự vận động và phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như mức sống, dân trí của dân cư” (Giáo trình Quản trị nguồn nhân lực, Nguyễn Tiệp, 2007) [24]. “Chất lượng nguồn nhân lực y tế được đo bằng 2 tiêu chí là năng lực hoạt động của viên chức y tế và phẩm chất đạo đức của viên chức y tế đó.
Phẩm chất đạo đức là khả năng dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và khó có tiêu chí nào làm thước đo để đánh giá phẩm chất đạo đức của viên chức” (Giáo trình Quản trị nguồn nhân lực, Phùng Rân, 2006) [21].