CHƯƠNG 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH DƯỠNG SINH TRUNG HOA 1. Khái niệm dưỡng sinh Dưỡng sinh là những phương pháp giúp chúng ta nuôi dưỡng sự sống. Nếu chúng ta nắm vững được những phương pháp này, chúng ta có thể giúp cho sự sống được duy trì và phát triển theo hướng tối ưu nhất. Sự sống ở đây được hiểu theo nghĩa bao gồm cả tinh thần và thể chất.
Bởi vì, thật không có ý nghĩa gì nêu như dưy trì một thân thể cường tráng nhưng với một tinh thần lưôn phiền muộn, bất an. Ngược lại, một thân thể ốm yếu bệnh hoạn thì cũng khó lòng có được một tinh thần lạc quan vui sống. Chỉ khi nào cả tình thần và thể chất đều song song phát triển theo hướng tốt hơn, sự sông mới thực sự có thê xem là được nuôi dưỡng một cách thích hợp. Theo từ điển tiếng Hán Việt: Dưỡng tức là nuôi nấng, dung dưỡng, là bồi bổ, chăm lo vun đắp.sinh là sự sống.
Như vậy, dưỡng sinh có nghĩa là “bảo trì sự sống”. Dưỡng sinh là Đạo sinh, Nhiếp sinh (chữ Nhiếp xưa là nuôi dưỡng; là cầm lấy, tóm lấy, chụp lấy “cái cốt lõi”), cũng cùng một mục đích và ý nghĩa như vậy. Ngày nay, người ta gọi dưỡng sinh là “Vệ sinh” tức là phải chủ động phòng ngừa, chủ động phát hiện và chữa trị bệnh tật nhằm duy trì sức khỏe của chính bản thân mỗi người. Trong quan niệm y học phương đông sức khỏe thể chất và tinh thần có sự tương quan trực tiếp.
Có thể khẳng định, mỗi cơ quan bên trong cơ thể có mối liên quan hỗ tương với những cảm xúc liên hệ. Việc này có nghĩa là, những cơ quan nội tạng có sự chi phối trên sự biểu lộ những cảm xúc đặc biệt, và ngược lại, những cảm xúc này cũng tạo ảnh hưởng vào chức năng sinh lý của những cơ quan đã chi phối chúng. Do vậy, để có một cơ thể khỏe mạnh, chúng ta cần “chăm sóc”, “trân quý” cả thể chất và tinh thần, những yếu tố trên sẽ có tác động qua lại, hỗ trợ lẫn nhau giúp con người có một sức khỏe dẻo dai và cường tráng, phòng ngừa bệnh tật. Có 8 thể dẫn chứng: sự không hòa hợp của hai buồng phổi sẽ dẫn đến sự buồn bã sầu thảm của chúng ta; trái lại, cảm giác buồn thảm luôn luôn làm cho phổi bị suy yếu.
Do đó, chúng ta có thể hiểu rằng những xúc cảm có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc sinh ra bệnh tật. Khái niệm phương pháp dưỡng sinh (PPDS) PPDS là phương pháp đưa ra quy luật sống của con người, khắc phục những hậu quả xấu có tác hại đến sức khỏe của con người. PPDS tìm ra lối sống lành mạnh phù hợp với thiên nhiên, mà cha ông ta đã đúc kết lại, ghi lại trong tác phẩm lưu truyền cho chúng ta rèn luyện sức khoẻ, tránh được những bệnh mãn tính. PPDS ngoài việc đề cao ăn uống bồi bổ, điều độ để tăng cường sức khỏe, còn giới thiệu các phương pháp tập luyện dưỡng sinh đơn giản nhưng hiệu quả, dễ áp dụng như điều hòa hơi thở, tĩnh tâm ngồi thiền, cách dùng thảo dược để duy trì sức khỏe, phòng ngừa và điều trị bệnh tật.
Lĩnh ngộ được những triết lý sâu này, sẽ có được một cơ thể khỏe mạnh, tinh thần thư thái, vượt qua mọi áp lực trong cuộc sống, an nhàn giữa bộn bề lo toan, kéo dài sức thanh xuân và tăng cường tuổi thọ cho con người. Lịch sử văn hóa dưỡng sinh Trung Hoa Theo nhiều nghiên cứu cho thấy, dưỡng sinh (DS) xuất xứ từ Trung Quốc, thời điểm ra đời chính xác vẫn chưa được xác thực. Tuy nhiên, dấu vết của DS xuất hiện khắp nơi trong dòng thời gian của lịch sử Trung Quốc khoảng vài trăm năm nay. Đây cũng là bí quyết để người xưa nuôi dưỡng sắc đẹp, gia tăng tuổi thọ và phát triển cơ thể khỏe mạnh.
Ở Trung Hoa đã biết tập luyện khí công từ lâu đời, nghiên cứu về khí công, nhiều người tập khí công và đã đề ra phương pháp giải quyết bệnh mạn tính bằng khí công, xoa bóp, thái cực quyền. Ở Trung Hoa, những ý tưởng tương tự cũng đã có từ rất sớm, và ngày nay vẫn còn có thể thấy được trong Kinh Dịch - một trong Ngũ Kinh - hoặc trong Đạo Đức Kinh của Lão Tử. 9 Người Trung Hoa quan niệm, trời đất có ngũ hành, âm dương, vạn vật thay đổi theo bốn mùa, mỗi sự việc, sự vật đều có lợi và hại khác nhau, cơ thể con người cũng vậy. Con người có 12 kinh mạch; khỏe mạnh bình an hay đau ốm bệnh tật đều bắt nguồn từ đó.
Dưỡng sinh đông y chính là vận dụng những quy luật chuyển hóa âm dương, ngũ hành trong cơ thể thông qua việc đả thông kinh lạc để phát huy tối đa lợi ích cũng như ngăn chặn các yếu tố nguy hại trong mỗi con người. Nói đơn giản hơn, dưỡng sinh đông y sẽ dựa trên các phương pháp của đông y và dưỡng sinh để tái tạo cơ thể, mang đến cho người sử dụng một sắc vóc khỏe khoắn và rạng ngời. Không chỉ ở Trung Hoa, trong huyền thoại của người Hy Lạp cổ đại, chúng ta cũng thấy có bóng dáng của những ý tưởng làm cho con người “giữ mãi được tuổi thanh xuân”, mặc dù còn mang đậm màu sắc huyền bí nhưng cũng cho thấy khát vọng tìm kiếm một phương thức cụ thể nhằm duy trì tốt sự sống. Trong triết học cổ Ấn Độ, tiêu biểu là những tư tưởng trong kinh Phệ - đà (Veda), từ trước thời đức Phật đản sinh, người ta cũng đã nhắc đến những vấn đề mang màu sắc của thuật DS.
Ở Ai Cập, Iran, Ấn Độ có phương pháp Yoga cổ truyền từ 4000 năm nay, là phương pháp rèn luyện tinh thần và thể xác đem lại sức khỏe toàn diện cho con người. Ở Châu Âu, các nền văn minh Hy Lạp và La Mã có phương pháp thể dục thể thao, truyền thống điền kinh, phương pháp tắm nước nóng và nước suối khoáng để bồi dưỡng sức lực, thể xác và tinh thần. Ở Liên Xô lấy thuyết Páp lốp làm cơ sở cho nền y học xã hội chủ nghĩa để xây dựng phương pháp phòng bệnh và trị bệnh rất toàn diện. Nhận thấy lợi ích của phương pháp này, Việt Nam có gửi cán bộ đi học tập phương pháp phòng bệnh và trị bệnh bằng thể dục, xoa bóp.
Hiện nay, lối sống văn minh hiện đại của cách mạng công nghiệp 4.0 đã tạo ra sự căng thẳng về tinh thần gây nhiều thứ bệnh, nên có phương pháp thư giãn (relaxation) để chống lại tình trạng căng thẳng và phương pháp thôi miên (hypnotisme) để trị bệnh… Có thể khẳng định, hai thứ quý giá của con người là sức khỏe và tuổi thọ; thời thanh niên, trung niên có sức khỏe mới thực hiện được những mục đích cao đẹp và 10 thỏa chí bình sinh là niềm vui lớn; lúc cao tuổi thân thể tráng kiện, trí tuệ minh mẫn, sống lâu và vẫn cống hiến được cho đời, cho người, là niềm hạnh phúc. Vì thế, người ta thường ví sức khỏe, tuổi thọ là vàng bạc. Thực tiễn đã chứng minh, đôi khi những người giàu sang, quyền quý có cả kho vàng cũng không mua được sức khỏe, những vua chúa cả núi bạc không mua thêm được một khoảnh khắc tuổi thọ. Bởi vậy mới có câu “tính mạng con người quý như đế vương”.
Thuật DS là một viên ngọc quý trong kho tàng văn hóa Trung Hoa. Các nhà nghiên cứu dưỡng sinh cho rằng, thuật dưỡng sinh xuất hiện ở thời kỳ săn bắn, trong quá trình săn bắn và mổ thịt các con thú, người ta phát hiện được gân cốt của những con thú rất dẻo dai, cứng cáp. Từ đó, con người ta đã bắt chước những động tác bay nhảy của các loài thú để luyện tập làm cho gân cốt cứng cáp, dẻo dai. Sách Lã thị xuân thu viết: “Gân cốt con người thu vào duỗi ra không đạt nên người xưa đã làm ra vũ để luyện tập; vũ là nguồn gốc của thuật đạo dẫn”1.
Có thể thấy, từ thuở xa xưa người Trung Hoa rất coi trọng TDS và thuật dưỡng sinh phát triển qua các giai đoạn: Tiên Tần; Hán- Đường; Tống - Nguyên và Minh - Thanh. Thứ 1, thời Tiên Tần, theo các nhà nghiên cứu thuật dưỡng sinh, trong quá trình làm lụng mệt nhọc, con người thường nhắm mắt để dưỡng thần; hoặc co duỗi chân tay; hoặc buông lỏng thân thể; hoặc thở ra ngắn, hít vào sâu. Với những động tác này, con người cảm thấy thư thái, giúp con người hồi phục lại sức khỏe, đặc biệt là việc hít - thở; lâu dần người ta có kinh nghiệm và sáng tạo ra thuật khí công. Năm 1973, các nhà khảo cổ đã tìm được nhiều đồ cổ bằng tre, lụa.
Trong đó, có một bức họa ước tính ra đời khoảng 168 (TCN); bức họa vẽ 44 người, có đủ lứa tuổi già, trẻ, nam nữ, đang đứng, ngồi chạy, tương tự các động tác giống những con vật đang trong tư thế chạy, bay như bọ ngựa, rồng, hạc, khỉ, gấu. Điều này chứng tỏ, thời kì Tiên Tần thuật đạo dẫn đã có những bước phát triển và dần được xem trọng. 1 Đông Á Sáng biên dịch, Tinh hoa dưỡng sinh Trung Quốc, NXB Hải Phòng, 2007, tr. 11 Theo các nhà nghiên cứu thuật dưỡng sinh, trong quá trình làm lụng mệt nhọc, con người thường nhắm mắt để dưỡng thần; hoặc co duỗi chân tay; hoặc buông lỏng thân thể; hoặc thở ra ngắn, hít vào sâu.
Với những động tác này, con người cảm thấy thư thái, giúp con người hồi phục lại sức khỏe, đặc biệt là việc hít - thở; lâu dần người ta có kinh nghiệm và sáng tạo ra thuật khí công. Người ta đã tìm ra một tấm minh vân sáu cạnh, gọi là hành khí ngọc bội minh (minh: chữ khắc trên đá, trên đồng); trên minh văn có khắc 45 chữ, nói về thuật hành khí, rất hoàn chỉnh; ước tính ngọc bội minh văn ra đời khoảng năm 380 (Tcn). Các nhà khảo cổ cũng tìm được mấy chữ khước cốc thực khí (không ăn ngũ cốc mà ăn khí). Có sách giải thích, khước cốc là uống thạch vi để thay thế ngũ cốc; thực khí điều hòa hơi thở, điều hòa khí, chú ý đến khí hậu và lục khí, tránh tà khí, hấp thu chính khí hữu ích cho sức khỏe và tuổi thọ con người.
Thời Xuân thu - Chiến quốc, xã hội Trung Hoa có nhiều thay đổi, các tư tưởng học thuật xuất hiện rất nhiều, như trăm hoa đua nở. Sử gọi thời kỳ này là trăm nhà đua tiếng, trăm hoa đua nở (bách gia tranh minh, bách hoa tề phóng). Tương tự các tư tưởng học thuật khác, thuật dưỡng sinh cũng đua tiếng, nở hoa.