MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Những người phụ nữ đơn thân đã có từ ngàn xưa. Họ đơn độc, không có người đàn ông bên cạnh và đối diện rất nhiều khó khăn trong cuộc sống. Vào những thế kỷ trước, tỷ lệ phụ nữ đơn thân rất thấp trừ khi có biến động lớn.
Nhưng ngày nay, con số phụ nữ đơn thân ngày một tăng cao. Theo thống kê của Hoa Kỳ, “Single Mother Statistics” hiện tượng độc thân làm mẹ rất phổ biến và có chiều hướng gia tăng. Vào thập kỷ 1960, số người mẹ độc thân nuôi con chỉ chiếm 9%, năm 2000 là 20%, năm 2007 là 27%.000 gia đình chỉ có phụ nữ nuôi con một mình, chiếm tỉ lê 30.2% Theo thống kê của Bộ Lao Động năm 2011, có 2.3 triệu phụ nữ có con dưới 18 tuổi thất nghiệp, chiếm tỉ lệ hơn một nửa, có khoảng 1,200.000 trên tổng số các bà mẹ thất nghiệp và thu nhập của họ dưới $25,000 một năm ($24,487). Trong khi đó, một gia đình có đủ vợ chồng thu nhập trung bình là $77,749 một năm.
Họ chỉ nhận được sự hỗ trợ từ chính phủ khoảng $300 một tháng.Tỷ lệ nghèo cho gia đình một mẹ chiếm là 40,7% so với 8,8% đối với gia đình có đủ vợ chồng. Đa số các trẻ em nghèo chiếm 24% và có ba phần tư các gia đình vô gia cư là những gia đình người mẹ độc thân. Mỗi mảnh đời phụ nữ đơn thân luôn có những hoàn cảnh và số phận khác nhau. Có người phụ nữ đơn thân do chồng mất sớm hoặc vợ chồng ly hôn, có những phụ nữ do thiếu hiểu biết, thiếu chín chắn trong tình yêu mà phải chấp nhận nuôi con một mình, hay có những phụ nữ mang trên mình một khiếm khuyết nào đó hay do “ Duyên phận lỡ làng, quá lứa nhỡ thì” nhưng luôn khao khát được làm mẹ, vì vậy họ quyết định “ Xin con” với một người đàn ông để rồi sau đó trở thành phụ nữ đơn thân nuôi con một mình và phải chịu sự soi mói, khinh thường và dị nghị của những người xung quanh.
Ngày nay có những người phụ nữ trẻ với học thức cao và bản lĩnh trước cuộc sống, họ hoàn toàn có thể tạo nên một cuộc sống vững vàng trên một nền tảng tài chính của chính mình. Chính vì vậy, họ theo đuổi hình mẫu người 1 phụ nữ thành công trong công việc nhưng vẫn luôn bản lĩnh chăm sóc con một cách tốt nhất và họ lựa chọn làm mẹ đơn thân. Ở Việt Nam những phụ nữ đơn thân ngày nay không còn chịu nhiều định kiến khắt khe, kỳ thị của cộng đồng và những người thân nhưng họ vẫn gặp vô vàn những khó khăn, họ không chỉ khổ về vật chất mà còn khổ về cả tinh thần. Vì khi không có người đàn ông bên cạnh, bà mẹ độc thân phải trở thành trụ cột gia đình.
Họ phải thực hiện đầy đủ hai bổn phận vừa làm cha, vừa làm mẹ vừa phải gồng mình lên để bươn trải kiếm sống nuôi con. Về mặt tinh thần phụ nữ đơn thân còn chịu nhiều khó khăn về nhu cầu tình dục như sự thiếu thốn, hay những nguy cơ tình dục khi không có người đàn ông bên cạnh. Vì vậy họ rất cần nhận được sự hỗ trợ, sự cảm thông, chia sẻ từ phía gia đình, cộng đồng và xã hội để có thể vượt qua khó khăn, vượt lên chính mình hòa nhập với cộng đồng. Xã Dũng Tiến, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội là một xã nghèo, có khoảng 2741 hộ gia đình, nhưng trong đó đã có 63 phụ nữ đơn thân nuôi con dưới 18 tuổi.
Những người phụ nữ độc thân nuôi con nhỏ tại đây đa số đều nghèo khổ, gia cảnh khó khăn và luôn tự ti, mặc cảm. Họ gần như chịu đựng tất cả sự bất hạnh và không thể tìm được hạnh phúc cho cuộc đời mình. Bởi vậy, để trợ giúp phụ nữ đơn thân nuôi con dưới 18 tuổi vượt qua mọi khó khăn vươn lên trong cuộc sống là nhiệm vụ của các cấp, các ngành nói riêng và toàn thể cộng đồng nói chung. Trong đó nhân viên công tác xã hội được coi là người có vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ những phụ nữ đơn thân vượt qua khó khăn trong cuộc sống bằng phương pháp, kỹ năng đặc thù của ngành công tác xã hội.
Vấn đề phụ nữ đơn thân nuôi con dưới 18 tuổi cần được nhìn nhận và quan tâm đúng mực, cần được nghiên cứu, đánh giá một cách khoa học và bài bản để từ đó có thể đưa ra các giải pháp, mô hình hỗ trợ hiệu quả và mang tính bền vững. Xuất phát từ yêu cầu về mặt lý luận cũng như thực tiễn. Tôi chọn đề tài: Công tác xã hội nhóm với phụ nữ đơn thân nuôi con dưới 18 tuổi tại xã 2 Dũng Tiến, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Để làm đề tài luận văn thạc sỹ ngành công tác xã hội.
Tôi hy vọng rằng với những cố gắng của mình, sẽ đóng góp vào việc trợ giúp phụ nữ đơn thân tại Việt Nam nói chung và phụ nữ xã Dũng Tiến nói riêng vượt qua những khó khăn về vật chất và tinh thần vươn lên trong cuộc sống. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1 Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở tìm hiểu và phân tích thực tế cuộc sống của những phụ nữ đơn thân nuôi con dưới 18 tuổi tại xã Dũng Tiến, đề tài tiến hành nhận định, phân tích, đánh giá, từ đó nêu bật được thực trạng, những khó khăn mà họ gặp phải, những nguyên nhân dẫn đến khó khăn đó, những nhu cầu của phụ nữ đơn thân nuôi con dưới 18 tuổi và sự cần thiết phải có sự trợ giúp dành cho các đối tượng này. Đồng thời, đề tài tiến hành thực hành công tác xã hội nhóm với phụ nữ đơn thân nuôi con dưới 18 tuổi và một số khuyến nghị, giải pháp cho vấn đề hỗ trợ cho phụ nữ đơn thân nuôi con dưới 18 tuổi để họ có thể vượt qua những rào cản từ xã hội và bản thân, khắc phục khó khăn, vươn lên hòa nhập với cộng đồng xã hội.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Phân tích tài liệu thứ cấp về thực trạng cuộc sống của Phụ nữ đơn thân nuôi con dưới 18 tuổi tại xã Dũng Tiến, huyện Thường Tín, TP Hà Nội. Thông qua khảo sát tại địa phương, tiến hành tìm hiểu thực tiễn cuộc sống, hoàn cảnh của từng phụ nữ đơn thân nuôi con dưới 18 tuổi , phân tích những khó khăn, những vấn đề mà họ gặp phải trong cuộc sống; những rào cản từ bản thân họ, từ gia đình, cộng đồng và xã hội đối với những nỗ lực của họ; nguyên nhân của vấn đề đó.
Xây dựng và ứng dụng mô hình công tác xã hội nhóm và đề xuất giải pháp nhằm trợ giúp một cách kịp thời và có hiệu quả cho nhóm phụ nữ đơn 3 thân nuôi con dưới 18 tuổi tại xã Dũng Tiến, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Trong các nhóm phụ nữ yếu thế ở Việt Nam hiện nay thì nhóm phụ nữ đơn thân là nhóm ít nhận được sự quan tâm, hỗ trợ từ phía cộng đồng xã hội. Trong các nghiên cứu khoa học xã hội thì vấn đề phụ nữ đơn thân cũng ít được bàn tới. Vấn đề này chỉ được đề cập đan xen trong các công trình nghiên cứu về phụ nữ nông thôn, các nghiên cứu về ly hôn và các công trình nghiên cứu về phụ nữ nghèo.
Cuốn sách “Vấn đề phụ nữ và trẻ em thời kỳ 2001 – 2010” (2002), của Vụ Tổng hợp – Pháp chế (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội) phối hợp với Nhà xuất bản Lao động – Xã hội biên soạn, nhằm giúp các nhà nghiên cứu, các chuyên gia và cán bộ làm công tác xã hội trong lĩnh vực bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ em, hệ thống hóa chủ trương, đường lối của Đảng, các giải pháp của Nhà nước và chương trình hành động quốc gia trong lĩnh vực này. Cuốn sách cũng cung cấp cho chúng ta đường hướng chính trong việc thúc đẩy quyền của phụ nữ và trẻ em thời kỳ 2001 – 2010. Cuốn sách “Gia đình học” (2007), Nxb. Lý luận Chính trị của tác giả Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý, trình bày một cách hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về gia đình, phụ nữ, bình đẳng nam nữ.
Cuốn sách đã nêu ra nhiều thực trạng bất bình đẳng giới trong gia đình, nêu lên các mối quan hệ gia đình từ truyền thống đến hiện đại, các điều tra xã hội học trong cuốn sách đã phân tích một số vấn đề về nghèo đói ảnh hưởng đến gia đình và các thành viên gia đình, chất lượng sống của gia đình và vị thế của phụ nữ nói chung và phụ nữ nghèo nói riêng. Từ đó các tác giả đã đưa ra biện pháp nhằm đạt tới sự bình đẳng giới trong gia đình và nâng cao vai trò của người phụ nữ trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Cuốn sách “Xã hội học giới”(2010), NXB Giáo dục Việt Nam của tác giả Lê Thị Quý, tác phẩm này đã cung cấp những kiến thức cơ bản về giới theo 4 hệ thống để nâng cao kiến thức cho người đọc về giới, phụ nữ và mối quan hệ của họ với nam giới trong lịch sử và hiện đại. Cuốn sách “ Gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng” của Trung tâm nghiên cứu gia đình và phụ nữ ( Xuất bản năm 1996), đã trình bày những kết quả nghiên cứu của Dự án Nghiên cứu những gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng.
Cuốn sách đã trình bày khá chi tiết về cuộc sống của những gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng ở nông thôn miền bắc Việt Nam trong bối cảnh những năm 80, đầu 90 của đất nước. Ở đây các tác giả đã đi sâu phân tích từng loại hộ gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng ( Phụ nữ góa bụa, ly hôn, ly thân, bị chồng ruồng bỏ, không có chồng hoặc không có chồng nhưng có con…), điều kiện sinh sống, hiện trạng kinh tế và đời sống tình cảm của họ, những khó khăn mà họ gặp phải, có so sánh với các gia đình đầy đủ cả vợ cả chồng. Theo tác giả ở khu vực nông thôn miền núi phía bắc Việt Nam, phần lớn số người được hỏi cho rằng vấn đề khó khăn về kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống gia đình. Đặc biệt, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, những người phụ nữ thiếu vằng chồng nhận được rất ít sự trợ giúp từ phía gia đình, họ hàng, cộng đồng và xã hội.