CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Vấn đề nghèo nói chung và phụ nữ nghèo nói riêng là một trong những đối tượng luôn nhận được nhiều sự quan tâm, tìm hiểu của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu trên cả phương diện lý luận và thực tiễn. Dựa trên mục tiêu nghiên cứu, nghiên cứu sinh khái quát tình hình nghiên cứu liên quan đến chủ đề của các tác giả trong nước và ngoài nước. Trong phần này, nghiên cứu sinh mô tả, phân tích và đánh giá những thành công và hạn chế, đồng thời kế thừa thành tựu của một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về DVCTXH đối với phụ nữ nghèo. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 1.
Nghiên cứu về dịch vụ công tác xã hội đối với phụ nữ nghèo Dịch vụ hỗ trợ vốn vay Khi nghiên cứu về dịch vụ hỗ trợ vốn vay, tác giả Rachel Jactan Sigalla và Stephen Carney (2012) nói đến chương trình cho vay nhỏ bao gồm các dịch vụ khác như giáo dục và trợ giúp luật pháp. Thông qua các chương trình này, các tổ chức phi chính phủ cố gắng cung cấp cho PNN những khoản vay nhỏ, tập huấn cho họ kỹ năng phát triển thu nhập, cung cấp thông tin sức khỏe và kỹ năng sống để giúp họ chăm sóc bản thân và gia đình tốt hơn; Từ đó giúp phụ nữ phát triển ý tưởng mới và mở rộng cơ hội hợp tác với các doanh nghiệp. Giá trị của việc cho vay vốn khởi nghiệp đòi hỏi phụ nữ phải độc lập, tự quyết và có quyền tham gia vào cộng đồng xã hội. Phụ nữ trong nghiên cứu này chắc chắn nhìn thấy những cải thiện và đạt được từ việc tham gia chương trình này.
Tuy nhiên, các phụ nữ trong chương trình nghiên cứu cho rằng chương trình cho vay nhỏ ngầm hình thành sự không công bằng về giới [127]. Một nghiên cứu định tính được của Kristy Ward & Vichhra Mouyly (2013) thực hiện tại một khu định cư nghèo đô thị của Phnom Penh vào năm 2012. Nghiên cứu nhằm mục đích khám phá những tác động tích cực và tiêu cực của cấu trúc và tổ chức xã hội đối với phụ nữ và kinh nghiệm của họ về các can thiệp tự lực do khởi xướng bởi các tổ chức phát triển. Các tổ chức này, bao gồm nhiều tổ chức phi chính phủ (NGO) cấp địa phương và quốc gia, thường hướng đến việc tổ chức phụ nữ trong các nhóm tự lực như một phần của các dự án phát triển cộng đồng, như một phương tiện hỗ trợ họ xây dựng và phát triển các mối quan hệ để hỗ trợ lẫn nhau.
Các dự án do NGO chủ yếu nhằm xóa đói giảm nghèo, được thực hiện bởi nhiều tổ chức và bao gồm giáo dục tiểu học, phân phối viện trợ trực tiếp (cung cấp vật liệu nhà ở và thực phẩm), trao quyền cho phụ nữ, y tế và tài chính vi mô. Ngoài ra, viện trợ trực tiếp cũng được phân phối trên cơ sở đặc biệt bởi Văn phòng xã địa phương và các tổ chức phi chính phủ. Các hộ gia đình được xác định để hỗ trợ 12 thông qua thông tin về thu nhập của họ do nhân viên của tổ chức phi chính phủ liên quan thu thập hoặc thông qua đánh giá có sự tham gia do các thành viên cộng đồng và tổ chức phi chính phủ cùng thực hiện [112]. Dịch vụ tư vấn/tham vấn Peter Warr và cộng sự (2015) cho rằng các dịch vụ công cộng như tư vấn giáo dục, sức khoẻ,…là những dịch vụ cần quan tâm thực hiện cho các nhóm riêng biệt trong đó có nhóm nghèo.
Thứ nhất, về chính sách giáo dục: cần cải thiện về việc tiếp cận trường học cụ thể là cho các đối tượng nghèo, vùng sâu vùng xa và người khó khăn. Thứ hai, về chính sách sức khỏe cần nhấn mạnh hơn vào cộng đồng dân thường nơi mà người nghèo và gia đình khó khăn được hưởng lợi nhiều hơn thông qua việc mở rộng các Trung tâm chăm sóc sức khỏe sơ cấp. Hai phần chính của chính sách này là chăm sóc sức khỏe người mẹ và trẻ em. Mục tiêu chiến lược là mở rộng dịch vụ chăm sóc sức khỏe đến tất cả các cộng đồng, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em vùng sâu vùng xa được ưu tiên.
Đồng thời, phối hợp với đối tác phát triển dựa trên những đối tượng ưu tiên này để đầu tư hiệu quả dịch vụ chăm sóc sức khỏe công cộng. Thêm vào mục tiêu chính, một loạt các dự án và chiến lược phụ được phát triển nhằm đảm bảo tất cả người dân Lào được tham gia vào các dịch vụ tư vấn và chăm sóc sức khỏe chất lượng [121]. Quan điểm về bình đẳng giới không chỉ đề cập đến mối quan hệ phức tạp giữa nam và nữ mà còn giữa các phụ nữ có vị trí khác nhau trong phạm vi quốc gia. Sự xung đột vai trò của người phụ nữ giữa công việc gia đình và công việc bên ngoài.
Nếu có sự bình đẳng giới trong các công việc bên ngoài thì chưa chắc gì sẽ có sự bình đẳng giới trong gia đình. Vì vậy việc nâng cao trình độ giáo dục và trao quyền quyết định cho họ trong hoàn cảnh nhất định là cách giúp người phụ nữ có thể vượt qua những gánh nặng khi đảm nhận nghiều vai trò cùng lúc. Giáo dục sẽ làm cho người phụ nữ xử lý tốt hơn trong các công việc gia đình và ngoài gia đình. Chính vì thế, phụ nữ cần được tư vấn, hỗ trợ tiếp cận với các nguồn lực để cải thiện cuộc sống trong đó giáo dục là nguồn lực cần thiết để giải phóng người phụ nữ.
Câu hỏi đặt ra cho vấn đề này là nếu người phụ nữ tham gia vào không gian công cộng cùng với nam giới liệu chăng họ có an toàn về mặt tình dục và người phụ nữ có tiếng nói hay không trong khi đó người phụ nữ chỉ được trao quyền và quyết định công việc trong gia đình [101]. Patricia Broderick (2005) đề cấp đến vai trò của CTXH trong việc bảo vệ và phát triển phụ nữ cần có sự can thiệp về các vấn đề nhạy cảm liên quan đến văn hóa, sự tôn trọng và sự quan tâm. Những việc làm này sẽ giúp cá nhân phụ nữ tự đánh giá được bản thân mình, nâng cao khả năng, trang bị đầy đủ kiến thức cho người phụ nữ giúp họ nhìn nhận được điểm mạnh của mình, tiếp nhận sự hỗ trợ từ 13 tổ chức. Đối với các nước Châu Phi, CTXH giúp giảm bất bình đẳng giới bằng cách tạo điều kiện cho phụ nữ đi học là con đường thiết yếu giúp phụ nữ phát huy khả năng của mình để đối đầu với thử thách trong cuộc sống, trong xã hội; phụ nữ có học vấn sẽ làm việc hiệu quả, tránh được nạn tảo hôn, có kiến thức về chăm sóc sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS.
CTXH là tiềm năng cho việc xóa bỏ bất bình đẳng giới bằng những chương trình do CTXH tổ chức tập trung vào các hoạt động cụ thể mà phụ nữ làm chính [120]. Dịch vụ dạy nghề và giới thiệu việc làm Margit Bussmann (2009) nêu ra 2 hướng để cải thiện phúc lợi cho phụ nữ: Thứ nhất, tạo thu nhập cao hơn cho phụ nữ. Chính quyền cần cung cấp thêm sản phẩm công cộng và dịch vụ phúc lợi. Theo quan điểm vĩ mô, nếu cấp độ mậu dịch cao sẽ thúc đẩy thu nhập của nơi đó, mậu dịch làm thay đổi khả năng chính quyền đáp ứng nhu cầu của dân số; Ví dụ như bảo vệ xã hội, trường học và phương tiện sức khỏe.
Thứ hai, tạo thêm việc làm cho phụ nữ (và nam), mậu dịch quốc tế có thể gia tăng thu nhập cho phụ nữ và giúp họ có giáo dục và chăm sóc sức khỏe tốt. Phúc lợi xã hội của phụ nữ thay đổi có thể cải thiện do họ cho rằng có vai trò năng động trong cuộc sống kinh tế: có tên tuổi, năng động trong thị trường lao động. Công nghiệp xuất khẩu tăng mạnh sẽ tạo nhiều việc làm mới, phụ nữ có thể hưởng lợi từ cơ hội làm việc trong lĩnh vực xuất khẩu. Và lực lượng phụ nữ tham gia lao động tăng sẽ tăng thu nhập cá nhân của phụ nữ [114].
Tuy nhiên, hai hướng nâng cao (cải thiện) phúc lợi cho phụ nữ nhưng nghiên cứu này chưa nêu ra những biện pháp cụ thể như mậu dịch quốc tế cần phải làm gì để có thể gia tăng thu nhập cho phụ nữ? Các nhà đầu tư quốc tế quan tâm đến phúc lợi xã hội cho phụ nữ như thế nào? Ipek Ilkkaracan và cộng sự (2021) cho rằng việc tăng chi tiêu cho việc mở rộng các dịch vụ Giáo dục và chăm sóc tạo ra hơn một triệu việc làm mới và cung cấp việc làm cho những người trước đây không có việc làm, đặc biệt là phụ nữ. Vì vậy, nhiều hộ gia đình được nâng lên trên ngưỡng nghèo về thu nhập, giảm tỷ lệ nghèo đói chính thức [110]. Tại Ấn Độ, quá trình toàn cầu hoá đã gây ra sự bất bình đẳng trong phân phối các nguồn lực theo địa vị, giới và các dòng tộc. PNN ở khu vực nông thôn và trong các khu vực phi chính thức bị ảnh hưởng nặng nề nhất do các làn sóng chuyển đổi kinh tế [117].
Đồng thời, Bhat, B. (1998) cho rằng khi các cuộc khủng hoảng xảy ra, bất bình đẳng đã tồn tại từ trước đó – như thiếu sự tham gia của phụ nữ ở tất cả các cấp độ trong quyền sở hữu tài sản và các quyết định kinh tế, và sự tham gia quá nhiều của phụ nữ trong các lĩnh vực chưa được quy hoạch và các ngành nghề truyền thống do thiếu đào tạo nghề và các kỹ năng 14 cần thiết – đóng vai trò quan trọng. Tuy nhiên bất bình đẳng giới lại càng gia tăng khi các cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra. Không chỉ có người nghèo bị ảnh hưởng mà cả những người cận nghèo và những người nghèo có việc làm cũng bị ảnh hưởng vì khủng hoảng.
Các chính sách điều chỉnh cơ cấu cắt giảm chi tiêu xã hội trong đó có chi tiêu dành cho y tế đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới đói nghèo và nợ nần. Quá trình tư nhân hoá các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và chi phí sử dụng dịch vụ này ảnh hưởng nghiêm trọng tới PNN, trẻ em, người khuyết tật và các cộng đồng bên lề xã hội [105], [113]. Một nghiên cứu về sinh kế của người nghèo, sinh kế của phụ nữ cũng được quan tâm, mặc dù chưa được triển khai nhiều. Một trong những minh chứng là nghiên cứu “Các chiến lược sinh kế và các mạng lưới gia đình của những bà mẹ có lương thấp ở Wincosin” của Collin và Mayer.