Phần mở đầu Phần 1: Tổng quan tài liệu Phần 2: Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu Phần 3: Kết quả nghiên cứu. Phần kết luận và kiến nghị n 4 PHẦN 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Giới và giới tính 1.
Khái niệm Giới tính và Giới Giới tính Là một thuật ngữ được các ngành khoa học xã hội và các nhà sinh học dung để chỉ một phạm trù sinh học, trong ý nghĩa đó nam và nữ khác nhau về mặt sinh học, tạo nên hai giới tính: nam giới và nữ giới. [1] Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến quá trình tái sản xuất con người và di truyền nòi giống. Ví dụ như: sự khác nhau về hình dạng cơ thể bên ngoài (nam giới cao to hơn, nặng hơn, giọng nói trầm hơn, .), khác nhau về cấu tạo NST, hormone,.khác nhau về chức năng sinh học, tạo nên vai trò của giới tính (phụ nữ mang thai, sinh con và cho con bú; nam giới sản xuất ra tinh trùng để thụ thai). Những đặc trưng mang tính sinh học này có ngay từ khi con người được sinh ra, chúng ổn định và hầu như không biến đổi ở cả nam và nữ [1].
Giới Giới trước hết không phải là phụ nữ. Giới liên hệ đến vai trò của nam và nữ do xã hội hoặc do một nền văn hóa xác lập nên. Giới có thể khác nhau giữa nơi này và nơi khác, giữa nền văn hóa này so với nền văn hóa khác và có thể thay đổi theo thời gian. [1] Giới là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ nhân học, nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ.
Giới đề cập đến vấn đề phân công lao động, các kiểu phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh cụ thể. [1] Giới là yếu tố luôn biến đổi cũng như tương quan về địa vị trong xã hội của nữ giới và nam giới, không phải là hiện tượng bất biến mà liên tục thay đổi. Nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể. "Giới là sản phẩm của xã hội, có tính xã hội, dùng để phân biệt sự khác nhau trong quan n 5 hệ nam và nữ.
Đây là cơ sở để nghiên cứu sự cân bằng về giới và đảm bảo công bằng trong xã hội. Đặc điểm, nguồn gốc sự khác biệt về giới. Đặc điểm về giới - Không tự nhiên mà có - Học được từ gia đình và xã hội - Đa dạng (khác nhau giữa các vùng miền) - Có thể thay đổi được Nguồn gốc giới - Trong gia đình, bắt đầu từ khi sinh ra, đứa trẻ được đối xử tuỳ theo nó là trai hay gái. Đó là sự khác nhau về đồ chơi, quần áo, tình cảm của ông bà, bố mẹ, anh chị.
Đứa trẻ được dạy dỗ và điều chỉnh hành vi của chúng theo giới tính của mình. - Trong nhà trường, các thầy cô giáo cũng định hướng theo sự khác biệt về giới cho học sinh. Học sinh nam được hướng theo các ngành kỹ thuật, điện tử, các ngành cần có thể lực tốt. Học sinh nữ được hướng theo các ngành như may, thêu, trang điểm, các ngành cần sự khéo léo, tỷ mỷ.
Sự khác biệt về giới Phụ nữ được xem là phái yếu, vì họ sống thiên hơn về tình cảm, họ là thành phần quan trọng tạo nên sự yên ấm trong gia đình. Thiên chức của phụ nữ là làm vợ, làm mẹ, nên họ gắn bó với con cái, gia đình hơn nam giới và cũng từ đấy mối quan tâm của họ cũng có phần khác nam giới. [16] Nam giới được coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình. Họ cứng rắn hơn về tình cảm, mạnh bạo và năng động hơn trong công việc.
Đặc trưng này cho phép họ dồn hết tâm trí vào lao động sản xuất, vào công việc xã hội, ít bị ràng buộc bởi con cái và gia đình. Chính điều này đã làm tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội. Hơn nữa, nam giới và nữ giới lại có xuất phát điểm không giống nhau để tiếp cận cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn với tính chất và mức độ khác nhau để tham gia vào các chương trình kinh tế, từ góc độ nhận thức, nắm bắt các thông tin xã hội. Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế, từ điều kiện và cơ hội được học tập, tiếp cận việc làm và làm việc, từ vị trí trong gia đình, ngoài xã hội khác nhau, từ n 6 tác động của định kiến xã hội, các hệ tư tưởng, phong tục tập quán đối với mỗi giới cũng khác nhau.
Nhu cầu, lợi ích và bình đẳng giới Nhu cầu giới thực tế Là những nhu cầu của phụ nữ và nam giới cần được đáp ứng để thực hiện tốt các vai trò được xã hội công nhận. Nhu cầu này nảy sinh trong đời sống hằng ngày, là những thứ nhìn thấy được, thiết thực, cụ thể. Có liên quan đến trách nhiệm và nhiệm vụ gắn với các vai trò truyền thống. Khác với nhu cầu giới chiến lược, nhu cầu giới thực tế được chính người phụ nữ đưa ra từ vị trí của họ chứ không phải qua can thiệp từ bên ngoài.
Ví dụ: phụ nữ có nhiều nhu cầu giới gắn với vai trò nuôi dưỡng của mình như củi, nước, thực phẩm, thuốc men.nếu những nhu cầu này được đáp ứng thì họ sẽ làm tốt hơn vai trò của mình. Lợi ích giới (nhu cầu giới chiến lược) Là những nhu cầu của phụ nữ và nam giới xuất phát từ sự chênh lệch về địa vị xã hội của họ. Những lợi ích này khi được đáp ứng sẽ thay đổi vị thế của phụ nữ và nam giới theo hướng bình đẳng. [1] Nhu cầu giới chiến lược được xác định để khắc phục tình trạng thấp kém hơn của mỗi giới, chúng có thể thay đổi theo hoàn cảnh xã hội, chính trị và văn hóa cụ thể.
Bình đẳng giới Bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và nam giới có được địa vị như nhau, có cơ hội như nhau để phát triển tiềm năng và được hưởng thụ bình đẳng và công bằng những lợi ích của sự phát triển. Bình đẳng giới không có nghĩa là nam giới và phụ nữ phải như nhau, mà là sự giống và khác nhau giữa nam giới và phụ nữ phải được công nhận và đánh giá một cách bình đẳng. Vai trò giới - Vai trò sản xuất: là những hoạt động do phụ nữ và nam giới thực hiện để làm ra của cải vật chất hoặc tinh thần đem lại thu nhập hoặc để tự tiêu dùng. Ví dụ: trồng lúa, nuôi gà, dạy học, … n 7 - Vai trò tái sản xuất (còn gọi là công việc gia đình): Bao gồm các hoạt động nhằm duy trì nòi giống, tái tạo sức lao động.
Vai trò này không chỉ đơn thuần là tái sản xuất sinh học, mà còn cả việc chăm lo, duy trì, phát triển lực lượng lao động cho hiện tại và tương lai như: nuôi dạy con cái, nuôi dưỡng các thành viên trong gia đình, làm công việc nội trợ…vai trò này hầu như của người phụ nữ. - Vai trò cộng đồng: Thể hiện ở những hoạt động tham gia thực hiện ở mức cộng đồng nhằm duy trì và phát triển các nguồn lực cộng đồng, thực hiện các nhu cầu, mục tiêu chung của cộng đồng. Những hoạt động tự nguyện mang lại phúc lợi cho cộng đồng như: dọn đường sạch sẽ, bảo vệ nguồn nước sạch, hoạt động từ thiện,…Hoạt động lãnh đạo ra quyết định như: tham gia cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, lãnh đạo đoàn thể. Tuy phụ nữ và nam giới thực hiện ba vai trò, xong lại được phân công lao động khác nhau.
Phụ nữ thường làm những việc đơn giản, ít kỹ thuật nên thu nhập thấp và giá trị công việc bị đánh giá thấp. Phân công lao động theo giới truyền thống đã tạo ra bất bình đẳng giới, hạn chế sự phát huy tiềm năng của phụ nữ và ảnh hưởng tới sự tham gia của phụ nữ vào quá trình phát triển của đất nước và xây dựng hạnh phúc gia đình. Vì vậy, một trong những yếu tố tạo nên bình đẳng giới là thay đổi phân công lao động theo giới truyền thống. Quan điểm về giới Quan điểm giới khẳng định và đánh giá cao vai trò của người phụ nữ.
Quan điểm này cho rằng để đạt đến bình đẳng nam nữ cần thay đổi cơ chế phân công lao động hiện đang quá nhấn mạnh đến mức khác biệt giữa phụ nữ và nam giới. [2] Vào những năm 1970 người ta đã tìm cách đưa các vấn đề của phụ nữ vào các chính sách phát triển nhưng nhìn chung, các nhà nghiên cứu cũng như các nhà làm chính sách đã không thấy hết được vai trò kinh tế to lớn của phụ nữ. Nhà kinh tế người Đan Mạch là Ester Boserup với cuốn “Vai trò của người phụ nữ trong phát triển kinh tế” (1970) được coi là người đầu tiên đặt lại vấn đề về cách nhìn nhận vai trò của người phụ nữ. Điểm hạn chế của cách n 8 tiếp cận này là coi phụ nữ như một nhóm đặc thù và những giải pháp được đưa ra cũng là những giải pháp đặc thù.
Vị trí, vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ 1. Một số khái niệm Vai trò Là một tập hợp các mong đợi, các quyền và những nghĩa vụ được gán cho một địa vị cụ thể mà địa vị là một sự xác định vị trí xã hội trong một cơ cấu xã hội. [2] Phát triển là quá trình thay đổi toàn diện nền kinh tế, bao gồm sự tăng thêm về quy mô sản lượng, cải thiện về cơ cấu, hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống. [10] Phát triển kinh tế Là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế.
Nó bao gồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, chất lượng cuộc sống. [8] Xã hội Xã hội là một tập thể hay một nhóm những người được phân biệt với các nhóm người khác bằng các lợi ích, mối quan hệ đặc trưng, chia sẻ cùng một thể chế và có cùng văn hóa. [8] Phát triển xã hội Là sự biến đổi xã hội về mặt chất lượng bao gồm tăng trưởng kinh tế, đẩy mạnh giáo dục, y tế về số lượng cũng như chất lượng và các chỉ số về cơ sở hạ tầng, các dịch vụ và có sự biến đổi theo hướng tiến bộ hơn, đẹp hơn, tốt hơn.