Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở lý luận chung về giới và giới tính 1.1 Khái niệm giới, giới tính Khái niệm về “Giới” được xuất hiện ban đầu là các nước nói tiếng Anh, vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XX cho đến thế những thập kỷ 80 nó được xuất hiện tại Việt Nam. Giới là yếu tố luôn luôn biến đổi cũng như tương quan về địa vị trong XH của nữ giới và nam giới không phải là hiện tượng bất biến mà liên tục thay đổi. Nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, XH cụ thể. Giới là sản phẩm của xã hội, có tính XH, dùng để phân biệt sự khác nhau trong quan hệ giữa nam và nữ, nó là cơ sở để nghiên cứu sự cân bằng về giới và nâng cao địa vị của người phụ nữ trong XH.
Do vậy, khái niệm về giới đã được nhiều tác giả định nghĩa khác nhau. * Vai trò của giới Khái niệm “Vai trò giới” dùng để chỉ kiểu hành vi, hoạt động với các nhiệm vụ quyền lợi, trách nhiệm nhất định mà xã hội mong chờ nữ giới và nam giới thực hiện. Song sự mong chờ của xã hội có thể biểu hiện ra là sự “gán cho”, “buộc cho” những người cụ thể tương ứng với vị thế của hộ. Ví dụ, nữ giới được gán cho vai trò “nội trợ”, nam giới được gán cho vai trò “kiếm tiền”, mặc dù trong một số trường hợp phụ nữ và nam giới không muốn thực hiện vai trò này.
Vai trò giới thể hiện rõ nhất trong sự phân công lao động theo giới trong gia đình và trong xã hội, trong hoạt động sản xuất và trong hoạt động tái sản xuất [29] Vai trò của giới có 3 vai trò đó là: Vai trò sản xuất, vai trò tái sản xuất, vai trò cộng đồng: n 5 Vai trò sản xuất: Đó là những công việc do cả phụ nữ và nam giới đảm nhiệm nhằm tạo ra thu nhập bằng tiền bạc hoặc vật chất. Chúng bao gồm có sản xuất hàng hoá có giá trị trao đổi và các loại hàng hóa có giá trị sử dụng [14],[22], [29]. Vai trò tái sản xuất: Đó là những hoạt động tạo ra nòi giống nhằm duy trì và tái sản xuất sức lao động. Vai trò này không chỉ bao gồm tái sản xuất sinh học mà còn có cả việc chăm lo duy trì phát triển lực lượng lao động cho thực tại và tương lai.
Đây là vai trò quan trọng bởi nó là những công việc thiết yếu để duy trì cuộc sống và sự tồn tại của con người [14],[17] ,[22], [29]. Vai trò cộng đồng: Thể hiện qua các hoạt động do phụ nữ và nam giới thực hiện ở cấp cộng đồng, các tổ chức xã hội. Tuy nhiên qua những thời kì khác nhau do những quan niệm tư tưởng về giới mà mức độ tham gia của phụ nữ và nam giới vào các hoạt động trên cũng khác nhau. Phần lớn phụ nữ ít có điều kiện tham gia các hoạt động xã hội, họ chủ yếu đảm nhiệm những công việc nội trợ và chăm sóc gia đình.
Đây cũng chính là nguyên nhân gây lên hiện tượng bất bình đẳng giới [14],[17] ,[22], [29].2 Khái niệm về nhu cầu giới và lợi ích giới Nhu cầu giới (còn gọi là nhu cầu thực tế): là những nhu cầu xuất phát từ những điều kiện cụ thể. Nó xuất phát từ các công việc và hoạt động thực tại củaphụ nữ và nam giới. Nếu những nhu cầu này được đáp ứng sẽ giúp cho họ làm tốt vai trò sẵn có của mình. Lợi ích giới (còn gọi là nhu cầu giới chiến lược): Là những nhu cầu của phụ nữ và nam giới xuất phát từ sự chênh lệch về địa vị XH của họ.
Những lợi ích này khi được đáp ứng sẽ thay đổi vị thế của phụ nữ và nam giới theo chiều hướng bình đẳng hơn Đặc điểm của lợi ích giới là thường có tính trừu tượng vô hình, có tác động trong thời gian dài hơn so với nhu cầu giới [2], [14] ,[22], [29]. * Bình đẳng giới Trong bối cảnh phân tích giới, sự bình đẳng giới nói đến việc cả nam và nữ có cùng quyền lợi và cơ hội như nhau để đạt đến năng lực tối đa của mình như là con người nó có nghĩa là cả nam và nữ có cùng khả năng quyết định đối với cuộc đời của mình cũng như đối với toàn xã hội. Bình đẳng giới còn n 6 được xem là sự nganh quyền giữa 2 giới nam và nữ, cũng như giữa các tầng lớp phụ nữ trong xã hội, có xét đến đặc điểm riêng của giới nữ, được điều chỉnh bởi các chính sách đối với phụ nữ một cách hợp lý [2], [29]. Trong báo cáo của WB, bình đẳng giới được xem xét theo nghĩa bình đẳng về phát luật, về cơ hội.
Bao gồm bình đẳng trong việc tiếp cận nguồn nhân lực, vốn và các nguồn lực SX khác; bình đẳng trong thù lao công việc và trong tiếng nói [3],[14],[17], [29]. Hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân 1.1 Khái niệm hộ nông dân Trong một số từ điển ngôn ngữ học cũng như một số từ điển chuyên ngành kinh tế, người ta định nghĩa về “hộ” như sau: “hộ” là tất cả những người sống chung trong một ngôi nhà và nhóm người này có cùng chung huyết tộc và người làm công, người cùng ăn chung. Hộ nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và phát triển nông thôn, vì tất cả các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu được thực hiện qua sự hoạt động của hộ nông dân. Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn.
Hộ nông dân là đơn vị xã hội làm cơ sở cho phân tích kinh tế; các nguồn lực của hộ nông dân là đất đai, tư liệu sản xuất, vốn sản xuất, sức lao động. được góp thành vốn chung, cùng chung một ngân sách; cùng chung sống dưới một mái nhà, ăn chung, mọi người đều hưởng phần thu nhập và mọi quyết định đều dựa trên ý kiến chung của các thành viên và người lớn trong hộ gia đình. Hộ nông dân có những đặc điểm sau: Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng. Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất thể hiện ở trình độ phát triển của hộ tự cấp, tự túc.
Trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân và thị trường [25].2 Khái niệm kinh tế hộ nông dân Theo Frank Ellis (1988) thì kinh tế hộ nông dân là: “Các nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường, hoạt động với một trình độ không hoàn chỉnh cao” [25]. n 7 Đặc điểm kinh tế hộ nông dân được phân biệt với các hình thức kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường bởi các đặc điểm sau: Đất đai: là tư liệu sản xuất đặc biệt đối với quá trình sản xuất nông nghiệp, đây là đặc điểm phân biệt hộ nông dân với những người lao động khác. Như vậy, nghiên cứu hộ nông dân là nghiên cứu những người sản xuất có tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai. Sự hiểu biết về kinh tế hộ nông dân được thông qua các đặc trưng của hộ nông dân nói chung.
Tuỳ theo điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia, mỗi vùng mà nông hộ có những đặc trưng cụ thể. Tóm lại, kinh tế hộ nông dân luôn gắn liền với đất đai và sử dụng lao động gia đình là chủ yếu. Mục đích chủ yếu nhất của sản xuất trong nông hộ là đáp ứng cho tiêu dùng trực tiếp của hộ, sau đó mới là sản xuất hàng hoá.3 Cơ sở lý luận về dân tộc, dân tộc Tày 1.1 Khái niệm về dân tộc Nước Việt Nam ta, dùng khái niệm dân tộc thiểu số và đa số. Dân tộc đa số là dân tộc có số người đông nhất trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số. Dân tộc Việt Nam là tất cả các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam có quốc tịch Việt Nam, không phân biệt nguồn gốc[23],[40].2 Thành phần Các dân tộc ở Việt Nam đã xuất hiện và hình thành trong hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Dân số Việt Nam gồm 54 dân tộc. Dân tộc đông nhất là dân tộc Kinh (Việt), chiếm 86,2% dân số.
Các dân tộc thiểu số đông dân nhất: Tày, Thái, Mường, Khmer, Hoa, Nùng, Hmông, Dao, Giarai, Êđê, Chăm, Sán Dìu. Đa số các dân tộc này sống ở miền núi và vùng sâu vùng xa ở miền Bắc, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long. Cuối cùng là các dân tộc Brâu, Ơ Đu và Rơ Măm chỉ có trên 300 người [23],[40].3 Về địa bàn cư trú Miền núi là địa bàn cư trú chủ yếu của các dân tộc thiểu số, có một bộ phận sống ở đồng bằng và hải đảo. Cư trú xen kẽ với nhau, không hình thành một vùng lãnh thổ riêng.
Đặc điểm cư trú đó có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc [23],[40].4 Dân tộc Tày Dân tộc Tày là một cộng đồng tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái. Thời Chu Tần, các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái và nhiều dân tộc khác nữa ở miền nam Trung Quốc và miền bắc Việt Nam được gọi chung là Bách Việt. Bách Việt gồm nhiều nhóm: Đông Việt, Mân Việt, Nam Việt, Lạc Việt, Điền Việt… Đến những thiên kỉ cuối cùng trước công nguyên, miền Nam Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam đã là địa bàn cư trú của người Tây Âu, Lạc Việt. Người Tây Âu – Lạc Việt chính là tổ tiên của người Thái ở Vân Nam, người Choang ở Quảng Tây, người Lê ở đảo Hải Nam, người Chủng Chá, Bố Y ở Quý Châu, người Tày, Nùng, Kinh ở Việt Nam.
Như thế, người Tày cổ vốn là cư dân bản địa lâu đời, xuất hiện ở vùng Đông Bắc Việt Nam từ rất sớm, thuộc ngành Tày – Thái phía đông. Người Tày ở vùng Đông Bắc Việt Nam hiện nay chủ yếu là sự kết hợp của ba nhóm Tày bản địa, Tày gốc Kinh và Tày gốc Nùng. Xét từ nguồn gốc, dễ nhận thấy đặc điểm nổi bật trong văn hóa của người Tày ở vùng Đông Bắc là sự giao thoa của các yếu tố văn hóa Kinh – Tày – Nùng.