Mở đầu Trong chương này sẽ giới thiệu tổng quát về đề tài nghiên cứu, xác định vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài và kết cấu của đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Giới thiệu cơ sở thực tiễn – lý thuyết về những đóng góp của phụ nữ trong kinh tế gia đình, trình bày các nghiên cứu trước từ đó đưa ra mô hình đề xuất. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Trong chương này sẽ giới thiệu về các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Việc xây dựng thang đo, cách chọn mẫu, xác định mẫu, công cụ thu thập dữ liệu, quá trình thu thập thông tin bằng bảng câu hỏi.
Xây dựng mô hình nghiên cứu, định nghĩa các biến độc lập và phụ thuộc. Chương 4: ết quả nghiên cứu 14 Trong chương này sẽ trình bày việc phân tích, xử lý các dữ liệu đã thu thập được từ bảng câu hỏi khảo sát bằng phần mềm SPSS20 và Eviews6. Chương 5: ết luận và gợi ý giải pháp Trong chương này sẽ trình bày một số kết luận, nêu lên những điểm hạn chế của đề tài. Đồng thời gợi ý một số giải pháp trong việc phát huy vai trò của người phụ nữ.
15 CHƯ NG 2: C SỞ LÝ THUYẾT Chương này sẽ giới thiệu về các khái niệm và lý thuyết liên quan đến những đóng góp của phụ nữ trong kinh tế hộ gia đình, giới thiệu về các nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài và cuối cùng là đưa ra mô hình đề xuất. Những đóng góp của phụ nữ trong kinh tế gia đình 2. Một số khái niệm Giới tính Theo Hafkin (2002, p.6) thì Giới tính là sự khác biệt giữa nam và nữ về góc độ xã hội, sự khác nhau do xã hội quyết định, các mối quan hệ do xã hội xác lập. Vai trò của giới được xác định bởi các đặc tính xã hội, văn hóa và kinh tế, được nhận thức bởi các thành viên trong xã hội đó.
Do vậy vai trò của giới có sự biến động và thay đổi qua không gian va thời gian. “Giới” là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân học nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ. “ Giới” đề cập đến việc phân công lao động, phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh xã hội cụ thể (Bùi Thị Kim, 2008). Theo chương trình SEAGEP (2001) thì: Giới là sự khác biệt về mặt xã hội giữa phụ nữ và nam giới ví dụ như vai trò, thái độ, hành vi ứng xử và các giá trị.
Vai trò giới được biết đến thông qua quá trình học tập và khác nhau theo từng nền văn hoá và thời gian. Do vậy giới có thể thay đổi được. Giới là một thuật ngữ có liên quan đến cả phụ nữ và nam giới. Bình đẳng giới tập trung vào những thay đổi cho cả phụ nữ và nam giới.
Bình đẳng giới nghĩa là phụ nữ và nam giới có vị trí như nhau trong xã hội. Bình đẳng giới không có nghĩa là nam giới và phụ nữ phải như nhau, mà là những sự giống nhau và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới phải được công nhận và đánh giá một cách bình đẳng. Bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và nam giới có điều kiện như nhau để 16 thực hiện đầy đủ các quyền của mình và có cơ hội để đóng góp và thụ hưởng sự phát triển chính trị, kinh tế - xã hội và văn hoá của đất nước. Bình đẳng giới không chỉ là khát vọng cao cả của tất cả phụ nữ trên thế giới mà nó còn tích cực trong việc phát triển bền vững kinh tế xã hội của quốc gia.
Giảm bất bình đẳng giới làm cho phụ nữ có khả năng chi tiêu nhiều hơn cho thực phẩm, nhà ở, giáo dục và là thành phần quan trọng đối với xóa đói giảm nghèo và thúc đẩy phát triển bền vững. Chính vì vậy làm cho doanh nghiệp nhận ra tầm quan trọng của chính sách bình đẳng giới, để doanh nghiệp cải thiện chính sách bình đẳng giới của họ tại nơi làm việc để họ có thể nhận được nhiều lực lượng lao động giỏi là phụ nữ. inh tế hộ gia đình nông thôn Theo Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì:Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã và dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn. Kinh tế nông thôn là một khu vực của nền kinh tế gắn liền với địa bàn nông thôn.
Kinh tế nông thôn vừa mang những đặc trưng chung của nền kinh tế về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, về cơ chế kinh tế. vừa có những đặc điểm riêng gắn liền với nông nghiệp, nông thôn. (từ thư viện Voer.vn) Hộ gia đình là một chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự đơn giản là một đơn vị xã hội. Theo quy định tại Điều 106 Bộ luật dân sự (2005) thì “hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc lĩnh vực này”.
Trong Hệ thống Các Tài khoản Quốc gia của Liên Hợp Quốc (UNSNA) (2008), hộ gia đình được phân thành hai loại: - Hộ gia đình một người, được định nghĩa như một sự sắp xếp trong đó một người tự cung cấp thức ăn và những yếu tố cần thiết khác cho riêng mình mà không kết hợp với bất kỳ người nào khác để tạo thành một hộ gia đình nhiều người. 17 - Hộ gia đình nhiều người, được định nghĩa là một nhóm gồm hai hay nhiều người sống cùng nhau, cùng cung cấp thức ăn hoặc những yếu tố cần thiết khác cho cuộc sống. Những người trong nhóm có thể góp thu nhập và trong chừng mực nào đó có một quỹ chung: Họ có thể là họ hàng hoặc không hoặc gồm cả hai loại có họ hàng và không có họ hàng. Sự sắp xếp này minh họa cho khái niệm công việc quản gia.
Trong một định nghĩa thay thế được sử dụng ở nhiều quốc gia về hộ gia đình, hộ gia đình bao gồm tất cả những người sống chung với nhau trong một đơn vị nhà ở. (Trích từ UNDP, 9/2012) Hộ có tư cách là một đơn vị kinh tế xã hội trong đó sự quản lý nguồn lực và ra quyết định là chủ hộ hay chủ gia đình. Chủ gia đình thường là người lớn tuổi hay là nam giới. Theo Moser (1996) thì gia đình đóng vai trò cơ bản trong hình thành các mối quan hệ giới và chủ hộ đưa ra hầu hết các quyết định cơ bản trong phạm vi của hộ như có con, nuôi dạy con cái, đi làm, nghỉ ngơi đầu tư cho tương lai.
Gia đình là một tế bào của xã hội là một hình thức tổ chức cơ bản, gắn kết với nhau bởi quan hệ huyết thống, hôn nhân, nuôi dưỡng và giáo dục. Trong gia đình luôn tồn tại giới và giới tính, hai phương diện về thể chất và xã hội. Ngày nay, sự phân công lao động không rõ ràng dựa vào giới. Người phụ nữ ngoài những việc sinh, nuôi dạy con cái và nội trợ trong gia đình thì còn tham gia vào việc ra quyết định và tham gia vào quá trình sản xuất, thương mại và các công tác xã hội.
Kinh tế hộ gia đình là một tổ chức kinh doanh thuộc sở hữu của hộ gia đình, trong đó các thành viên có tài sản chung trong sản xuất nông lâm ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác do pháp luật qui định. Để phát triển kinh tế hộ gia đình thì ta phải căn cứ vào điều kiện, khả năng của từng hộ gia đình mà ta phát triển kinh tế gia đình cho phù hợp như sản xuất nông nghiệp, vừa làm nông nghiệp vừa làm ngành nghề hay buôn bán. tất cả đều có thể làm tăng thu nhập cho hộ gia đình. Vị trí và vai trò của phụ nữ trong kinh tế gia đình Chúng ta phải thừa nhận vị trí hết sức quan trọng của người phụ nữ trong gia đình.
Họ có ảnh hưởng to lớn tới hạnh phúc và sự ổn định của gia đình. Phụ nữ với vai trò là người vợ hiền, họ luôn hiểu chồng, sẵn sàng chia sẻ những ngọt bùi cũng như những đắng cay cùng chồng, khiến người chồng luôn cảm thấy yên tâm trong cuộc sống, từ đó họ có thể đóng góp nhiều hơn cho xã hội. Không chỉ chăm sóc giúp đỡ chồng trong gia đình, người vợ còn đưa ra những lời khuyên thiết thực giúp chồng trong công việc, đóng góp vào thành công trong sự nghiệp của chồng. Tuy Phụ nữ thường được nhìn nhận là có năng lực thấp kém hơn so với nam giới, nhưng những số liệu thống kê lại chứng minh phụ nữ hoàn toàn có khả năng làm việc và tổ chức không chỉ trong việc chăm sóc gia đình mà còn cả những công việc làm ăn kinh tế hoặc những công việc khác ngoài xã hội (Nguyễn Thế Hiếu, 2007).
Là những người mẹ hết lòng vì con cái, họ thực sự là những tấm gương cho con cái noi theo. Phần lớn thời gian hàng ngày của con cái là chịu ảnh hưởng từ người mẹ theo kiểu mưa dầm thấm lâu. Những đức tính của người mẹ đã hình thành dần dần bản tính của con cái (Bùi Thị Mai Đông, 2015). Người mẹ ngày nay còn là một người bạn lớn luôn ở bên con để hướng dẫn, động viên kịp thời.
Là người nội trợ, phụ nữ là người sắp xếp, tổ chức cuộc sống gia đình (Bùi Thị Mai Đông, 2015). Để thể hiện tốt vai trò này, người phụ nữ đã thể hiện vai trò đảm đang trong quán xuyến công việc gia đình, từ việc đi chợ, lo cơm nước đảm bảo sức khỏe cho các thành viên trong gia đình, đến việc sắp xếp công việc chung và công việc cho các thành viên trong gia đình hợp lý, hằng ngày thu xếp, dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ, ngăn nắp để giữ ổn định trong gia đình.