Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiến về vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và thiết kế luận văn. Chương 3: Thực trạng vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình huyện Nghi Lộc – Nghệ An. Chương 4: Giải pháp giúp nâng cao vai trò của người phụ nư nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại huyện Nghi Lộc – Nghệ An.
4 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH 1. Cơ sở lý luận về vai trò của phụ nữ nông thôn.Một số khái niệm liên quan. - Kinh tế HGĐ: Kinh tế hộ gia đình ( HGĐ) là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Kể từ khi được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ ( năm 1988), sự phát triển kinh tế hộ gia đình nông thôn đã có sự chuyển biển tích cực cả về quy mô, tốc độ và cơ cấu.
Đến nay, nhiều hộ gia đình đã đứng vững được rong nền kinh tế thị trường, có tác động lớn đến sự nghiệp xóa đói giảm nghèo của địa phương cũng như cả nước. Tuy vậy, dưới góc nhìn phát triển bền vững, sự phát triển của kinh tế hộ vẫn còn nhiều hạn chế. Theo Frank Ellis (1988) thì kinh tế hộ nông dân là: Các nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường, hoạt động với một trình độ không hoàn chỉnh cao. Kinh tế HGĐ được hình thành theo một cách thức tổ chức riêng trong pham vi gia đình.
Các thành viên trong hộ cùng có chung sở hữu các tài sản cũng như kết quả kinh doanh của họ. Kinh tế HGĐ chủ yếu tồn tại ở nông thôn, hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản. một bộ phận khác có hoạt động phi nông nghiệp ở mức độ khác nhau. Trong kinh tế hộ gia đình, chủ hộ là người sở hữu nhưng cũng là người 5 z lao động trực tiếp.
Tùy theo điều kiện cụ thể, họ có thuê mướn lao động. Quy mô sản xuất của kinh tế hộ gia đình thường nhỏ, vốn đầu tư ít. Sản xuất của kinh tế hộ còn mang nặng tính tự cung tự cấp, hướng tới mục đích đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của hộ là chủ yếu. Quá trình sản xuất chủ yếu dựa vào sức lao động thủ công và công cụ truyền thống, do đó năng suất lao động thấp.
Do vậy tích lũy của hộ chủ yếu chỉ dựa vào lao động gia đình là chính. Trình độ quản lý chuyên môn nghiệp vụ của chủ hộ rất hạn chế, chủ yếu là do kinh nghiệm từ đời trước truyền lại. Vì vậy, nhận thức của chủ hộ về pháp luật, kinh doanh, cũng như về kinh tế thị truongwfraats hạn chế. Tại Việt Nam, kinh tế HGĐ chủ yếu là kinh tế của các hộ gia đình nông dân tại khu vực nông thôn.
Xét theo cơ cấu nghành nghề, kinh tế hộ được phân chia thành các loại: hộ thuần nông ( hoạt động trong liĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp) hộ kiêm nghề ( vừa là nông nghiệp vừa là thủ công nghiệp); hộ chuyên nghề ( hoạt động trong các ngành nghề dịch vụ). Đến nay, kinh tế hộ gia đình đã trở thành một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta. - Giới tính: Chỉ sự khác biệt về sinh học giữa nam giới và nữ giới mang tính toàn cầu và không thay đổi. Các đặc tưng của giới tính bị quy định và hoạt động theo các cơ chế tự nhiên, di truyền.
Ví dụ, người nào có cặp nhiệm sắc thể giới tính XX thì thuộc về nữ giới, người nào có cặp nhiễm sắc thể giới tính XY thì thuộc về nam giới. Nữ giới vốn có chức năng sinh lý học như tạo ra trứng, mang thai, sinh con và cho con bú bằng bầu sữa mẹ. Nam giới có chức năng tạo ra tinh trùng. Về mặt sinh lý học, nữ giới khác với nam giới.
- Giới: 6 z Chỉ sự khác biệt về xã hội và quan hệ (về quyền lực) giữa trẻ em trai và trẻ em gái, giữa phụ nữ và nam giới, được hình thành và khác nhau ngay trong một nền văn hoá, giữa các nền văn hoá và thay đổi theo thời gian. Sự khác biệt này được nhận thấy một cách rõ ràng trong vai trò, trách nhiệm, nhu cầu, khó khăn thuận lợi của các giới tính. Khái niệm về "Giới" được xuất hiện ban đầu là các nước nói tiếng Anh, vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XX. Ở Việt Nam, khái niệm này mới xuất hiện vào khoảng thập kỷ 80.
“Giới” là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân học, nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ. "Giới" đề cập đến việc phân công lao động, các kiểu phân chia: nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh xã hội cụ thể. "Giới" là yếu tố luôn biến đổi cũng như tương quan về địa vị trong xã hội của nữ giới và nam giới, không phải là hiện tượng bất biến mà liên tục thay đổi. Nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể.
"Giới" là sản phẩm của xã hội, có tính xã hội, dùng để phân biệt sự khác nhau trong quan hệ nam và nữ. Đây là cơ sở để nghiên cứu sự cân bằng về giới và đảm bảo công bằng trong xã hội - Nông thôn: Nông thôn là phần lãnh thổ của một nhà nước hay một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và dân cư chủ yếu làm nông nghiệp. - Phụ nữ nông thôn: Là những người phụ nữ sinh sống va làm việc tại khu vực nông thôn. Tại Việt Nam nói riêng và tại các quốc gia trên thế giới nói chung phụ nữ nông thôn có một số đặc điểm như sau: 7 z + Là lực lượng đông đảo nhất trong cơ cấu dân cư, cơ cấu lao động ở nông thôn.
+ Là nạn nhân của những hủ tục, tập quán truyền thống lạc hậu, của tệ phân biệt đối xử trọng nam, khinh nữ vẫn tồn tại thâm căn cố đế trong xã hội nông thôn; là người gánh chịu nặng nề nhất những mất mát, tai họa do hậu quả của các cuộc chiến tranh mấy chục năm qua. + Phụ nữ vừa là người sản xuất nuôi sống gia đình, vừa là người nội trợ trong gia đình, vừa là người tham gia các hoạt động quản lý, hoạt động cộng đồng, là người sinh đẻ, chăm sóc con cái, người già, người ốm trong gia đình; trình độ học vấn thấp, sự hiểu biết về kinh tế - xã hội hạn chế, ít có điều kiện tiếp cận và nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật, khoa học và công nghệ. + Phụ nữ ít có điều kiện thụ hưởng các giá trị văn hóa tinh thần; bất bình đẳng với nam giới trong việc tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực phát triển kinh tế gia đình, cũng không phải là người quyết định những vấn đề quan trọng của gia đình. Vị trí, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình.
Vị trí của phụ nữ trong gia đình và xã hội. Trên toàn thế giới, phụ nữ đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả năng sản xuất và tái sản xuất. Họ chiếm trên 50% trong tổng số lao động; số giờ lao động của họ chiếm 2/3 tổng giờ lao động của xã hội và sản xuất ra 1/2 trong tổng sản lượng nông nghiệp. Cùng với việc đảm nhiệm nhiều công việc khác nhau, lao động nữ chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong các ngành công nghiệp, dịch vụ với trình độ không ngừng được nâng cao.
Theo kết quả của những công trình nghiên cứu trước cho biết: Phụ nữ là người tạo ra phần lớn lương thực tiêu dùng cho gia đình, 1/4 số hộ gia đình trên thế giới do nữ làm chủ hộ và nhiều hộ gia đình khác phải phụ thuộc vào thu nhập của lao động nữ [5]. Tuy vậy, sự bất bình đẳng vẫn còn tồn tại ở rất 8 z nhiều nước trên thế giới. Đặc biệt là ở các vùng nông thôn, phụ nữ bị hạn chế về mọi mặt, đời sống, điều kiện sống và làm việc tồi tàn, địa vị trong xã hội thấp. Trong số hơn 1,3 tỷ người trên thế giới ở trong tình trạng nghèo khổ thì có đến 70% là nữ.
Có ít nhất 1/2 triệu phụ nữ tử vong do các biến chứng về mang thai, sinh đẻ. Ở Việt Nam ngày nay, phụ nữ chiếm 50,5% dân số và gần 50% lực lượng lao động xã hội, ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội và giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy Nhà nước. Hiện có tới 24,4% đại biểu nữ trong Quốc hội tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học là 36,24%; thạc sỹ 33,95%; tiến sỹ 25,69%. Tuy nhiên, so với con số trung bình theo quy định của Quốc tế tỷ lệ lao động nữ là đại biểu Quốc hội của Việt Nam chưa đạt và có xu hướng giảm dần.
Theo số liệu của Văn phòng Quốc hội thì tỷ lệ nữ Việt Nam tham gia vào Quốc hội giai đoạn 1975 – 1976 là 32%; 1976 – 1981 là 27%; 1992 – 1997 chỉ còn 18,5%; 2002 - 2007 tăng lên là 27,31%. Hiện nay con số tỷ lệ phụ nữ tham gia trong Quốc hội nhiệm kì 2011 – 2016 giảm xuống còn 24,4% thấp nhất trong bốn nhiệm kì vừa qua. Phụ nữ luôn là nhân tố quan trọng đối với sự phát triển của gia đình và xã hội. Nghĩa vụ công dân và thiên chức làm vợ, làm mẹ của phụ nữ được thực hiện tốt là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự ổn định và phát triển lâu dài của đất nước.
Ngày càng có nhiều phụ nữ thành đạt trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học, chính trị và xã hội. Điều đó cho thấy phụ nữ ngày càng có vai trò quan trọng hơn trong các lĩnh vực của xã hội. Vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình. Phụ nữ luôn là người đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả năng sản xuất và tái sản xuất.
Sự nghiệp giải phóng phụ nữ đã đem lại cho xã hội 9 z nguồn nhân lực, trí lực dồi dào và ngày càng phát triển.