CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học 1. Giới tính và giới 1. Khái niệm giới tính và giới Giới tính và giới thường bị nhầm lẫn với nhau.
Nhưng thực chất, hai khái niệm này lại khác nhau ở hai phương diện cơ bản đó là: sinh học và xã hội. * Giới tính: - Theo Tổ chức lao động quốc tế: giới tính chỉ sự khác biệt về sinh học giữa nam giới và nữ giới mang tính toàn cầu và không thay đổi. [21] - Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ ra rằng: giới tính là một thuật ngữ chỉ sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới xét về mặt sinh học, sự khác biệt căn bản về hình dáng bên ngoài của cơ thể, sự khác nhau về chức năng sinh học tạo nên vai trò của giới tính như: phụ nữ mang thai, sinh con và cho con bú bằng sữa mẹ. Về mặt sinh học, nam và nữ không giống nhau trên nhiều phương diện nhưng chủ yếu nhất là hình dáng, giọng nói và chức năng sinh sản.
[17] Giới tính là bẩm sinh và đồng nhất, bị quy định và hoạt động theo các cơ chế tự nhiên, di truyền. Chẳng hạn như: người có cặp NST giới tính XX thì thuộc về nữ giới, người có cặp NST giới tính XY thì thuộc về nam giới. Ngay từ trong bào thai, hoóc môn, nhiễm sắc thể, bộ phận sinh dục…của nam giới và nữ giới khác nhau, được quy định bởi tự nhiên, không theo và không phụ thuộc vào mong muốn của con người. Đồng thời, chức năng sinh sản của nữ giới hay nam giới là không thể thay thế, thay đổi hay chuyển dịch cho nhau.
Nam giới hay nữ giới trên khắp thế giới đều có chức năng/cơ quan sinh sản giống nhau, đều tham gia và mang các yếu tố đóng góp vào quá trình sinh sản như nhau. Đây được gọi là tính đồng nhất. Sự khác biệt về giới tính hầu như bất biến cả về thời gian cũng như về không gian. [6] n 5 * Giới: - Theo Tổ chức lao động quốc tế, Thúc đẩy bình đẳng giới, năm 2002: sự khác biệt về xã hội và quan hệ (quyền lực) giữa trẻ em trai và trẻ em gái, giữa phụ nữ và nam giới, được hình thành và khác nhau ngay trong một nền văn hóa, giữa các nền văn hóa và thay đổi theo thời gian.
Sự khác biệt này được nhận thấy một cách rõ ràng trong vai trò, trách nhiệm, nhu cầu, khó khăn, thuận lợi của các giới tính. [21] Giới là sự khác biệt giữa nam và nữ về góc độ xã hội, sự khác nhau do xã hội quyết định, các mối quan hệ do xã hội xác lập. Vai trò của giới được xác định bởi các đặc tính xã hội, văn hóa và kinh tế, được nhận thức bởi các thành viên trong xã hội đó. Do vậy vai trò của giới có sự biến động và thay đổi qua không gian và thời gian.
[14] Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam giới các đặc điểm giới khác nhau. Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng và có thể thay đổi được. Giới có thể là khái niệm dùng để chỉ các đặc trưng xã hội của nam và nữ. Đây là tập hợp những hành vi ứng xử về mặt xã hội, những mong muốn về những đặc điểm và năng lực mà xã hội coi là thuộc về nam giới hoặc phụ nữ trong xã hội hay nền văn hóa cụ thể nào đó.
[4] Vào những năm 60 của thế kỷ XX, khái niệm về “Giới” được xuất hiện ở các nước nói tiếng Anh. Sau đó nhanh chóng trở thành một phương pháp tiếp cận khoa học được nghiện cứu và vận dụng trong việc xây dựng các kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia. Đối với Việt Nam, Khoa học về Giới xuất hiện vào cuối những năm 1980 với nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về giới và các vấn đề của phụ nữ. Thuật ngữ “Giới” bắt nguồn từ môn nhân khẩu học, nó đề cập đến phân công lao động, vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ.
n 6 Yếu tố “Giới” là sản phẩm của xã hội, có tính xã hội, dùng để phân biệt sự khác nhau trong quan hệ nam và nữ, do vậy nó luôn biến đổi phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể. Giới phản ảnh sự khác biệt giữa nam và nữ về khía cạnh xã hội. Những sự khác biệt này là do quá trình học mà thành, đa dạng, và có thể thay đổi. Chúng thay đổi theo thời gian, từ nước này sang nước khác, từ nền văn hoá này sang nền văn hoá khác trong một bối cảnh cụ thể của một xã hội, do các yếu tố xã hội, lịch sử, tôn giáo, kinh tế quyết định.
Giới và giới tính là hai yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau. Giới tính là tiền đề sinh học của giới, là dấu hiệu đầu tiên và lâu dài để phân biệt nam, nữ. Hiểu rõ vai trò của giới và giới tính trong mối quan hệ qua lại là điều cần thiết để tổ chức và triển khai sự phân công lao động hợp lý. Đặc điểm, nguồn gốc và sự khác biệt về giới * Đặc điểm giới: - Không tự nhiên mà có - Học được từ gia đình và xã hội - Đa dạng (khác nhau giữa các vùng miền) - Có thể thay đổi được * Nguồn gốc giới - Trong gia đình, ngay từ khi sinh ra, đứa trẻ đã được đối xử tùy theo chúng là trai hay gái.
Những sự khác nhau đó có thể là: về đồ chơi, quần áo, tình cảm của ông bà, bố mẹ, anh chị. Đứa trẻ được dạy dỗ và điều chỉnh hành vi của chúng theo giới tính của mình. - Trong nhà trường, các thầy cô giáo cũng định hướng theo sự khác biệt về giới cho học sinh. Học sinh nam được hướng theo các ngành kỹ thuật, điện tử, các ngành cần có thể lực tốt.
Học sinh nữ được hướng theo các ngành như may, thêu, trang điểm, các ngành cần sự khéo léo, tỷ mỷ. n 7 * Sự khác biệt về giới: Phụ nữ được xem là phái yếu, vì họ sống thiên hơn về tình cảm, họ là thành phần quan trọng tạo nên sự yên ấm trong gia đình. Thiên chức của phụ nữ là làm vợ, làm mẹ nên họ gắn bó với con cái, gia đình hơn nam giới và cũng từ đó mối quan tâm của họ cũng có phần khác nam giới. Nam giới được coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình.
Họ cứng rắn hơn về tình cảm, mạnh bạo và năng động hơn trong công việc. Đặc trưng này cho phép họ dồn hết tâm trí vào lao động sản xuất, vào công việc xã hội, ít bị ràng buộc bởi con cái và gia đình. Chính điều này đã làm tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội. Hơn nữa, nam giới và nữ giới lại có xuất phát điểm không giống nhau để tiếp cận cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn với tính chất và mức độ khác nhau để tham gia vào các chương trình kinh tế, từ góc độ nhận thức, nắm bắt các thông tin xã hội.
Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế, từ điều kiện và cơ hội được học tập, tiếp cận việc làm và làm việc, từ vị trí trong gia đình, ngoài xã hội khác nhau, từ tác động của định kiến xã hội, các hệ tư tưởng, phong tục tập quán đối với mỗi giới cũng khác nhau. Nhu cầu, lợi ích giới và bình đẳng giới * Nhu cầu giới (còn gọi là nhu cầu thực tế): là những nhu cầu xuất phát từ công việc và hoạt động hiện tại của phụ nữ và nam giới. Nếu những nhu cầu này được đáp ứng thì sẽ giúp cho họ làm tốt vai trò sẵn có của mình. [1] Nhu cầu giới thực tế là những nhu cầu được hình thành từ những điều kiện cụ thể mà phụ nữ trải qua.
Chúng nảy sinh từ những vị trí của họ trong phân công lao động theo giới, cùng với lợi ích giới thực tế của họ là sự tồn tại của con người. Khác với nhu cầu chiến lược, chúng được chính phụ nữ đưa ra từ vị trí của họ chứ không phải qua can thiệp từ bên ngoài. Vì vậy nhu cầu giới thực tế thường là sự hưởng ứng đối với sự cần thiết được nhận thức ngay do phụ nữ xác định trong hoàn cảnh cụ thể. n 8 * Lợi ích giới (còn gọi là nhu cầu chiến lược): là những nhu cầu của phụ nữ và nam giới xuất phát từ sự chênh lệch về địa vị xã hội của họ.
Những lợi ích này khi được đáp ứng sẽ thay đổi vị thế của phụ nữ và nam giới theo hướng bình đẳng. [1] * Bình đẳng giới: - Theo Trần Thị Vân Anh: nam giới và nữ giới được coi trọng như nhau, cùng được công nhận và có vị thế bình đẳng. [1] - Khái niệm Bình đẳng giới: là môi trường trong đó cả nữ giới và nam giới được hưởng vị trí ngang nhau, họ có các cơ hội bình đẳng để phát triển đầy đủ tiềm năng của mình nhằm cống hiến cho sự phát triển quốc gia và được hưởng lợi từ các kết quả đó. [23] Nam giới và phụ nữ được bình đẳng về: - Các điều kiện để phát huy đầy đủ tiềm năng - Các cơ hội để tham gia đóng góp, hưởng lợi trong quá trình phát triển - Quyền tự do và chất lượng cuộc sống Bên cạnh quy định về những quyền và nghĩa vụ chung, bình đẳng cho cả nam và nữ, pháp luật còn xác định những đặc quyền chỉ áp dụng cho phụ nữ nhằm bù đắp cho phụ nữ những thiệt thòi, đặt họ vào vị trí xuất phát ngang bằng với đàn ông trong các quan hệ xã hội, đảm bảo cho họ có thể tiếp nhận các cơ hội và thụ hưởng các quyền một cách bình đẳng như nam giới.
Đây là quan điểm bình đẳng giới thực chất. [18] Luật Bình đẳng giới (2007) tại Điều 5 chỉ rõ: Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó. [17] Với một xã hội hiện đại như ngày nay, bình đẳng giới cần phải gắn với quan điểm phát triển, sự tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Điều này n 9 thể hiện ở việc tôn trọng giá trị nhân phẩm của nam giới cũng như nữ giới trong những đóng góp của họ đối với xã hội và gia đình.