Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ VỐN VAY ỦY THÁC CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TẠI HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ 1. Cơ sở lý luận về quản lý vốn vay ủy thác của NHCSXH tại Hội LHPN 1.Một số khái niệm cơ bản 1. Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh Bắc Kạn Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh Bắc Kạn là tổ chức chính trị - xã hội của phụ nữ Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện. Hội phụ nữ bao gồm những phụ nữ tiên tiến, phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh Bắc Kạn là phụ nữ Việt Nam tiên tiến, phấn đấu vì lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc; có lối sống lành mạnh, cần kiệm, trung thực; tích cực, gương mẫu trong học tập, lao động, hoạt động xã hội và bảo vệ Tổ quốc, gắn bó mật thiết với phụ nữ; chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước và Điều lệ Hội liên hiệp phụ nữ. Phụ nữ Việt Nam tuổi từ 18 tuổi trở lên tích cực học tập, lao động và bảo vệ Tổ quốc, được tìm hiểu về Hội phụ nữ và tán thành Điều lệ Hội liên hiệp phụ nữ, tự nguyện hoạt động trong một tổ chức cơ sở của Hội phụ nữ, có lý lịch rõ ràng đều được xét kết nạp vào Hội phụ nữ (Hội liên hiệp phụ nữ, 2018). Ngân hàng chính sách xã hội Ngân hàng Chính sách xã hội (tên giao dịch tiếng anh: Vietnam Bank for Social Policies, viết tắt: VBSP) là ngân hàng quốc doanh được thành lập theo Quyết định 131/2002/QĐ-TTg ngày 4 tháng 10 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ Người nghèo thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. Việc xây dựng Ngân hàng Chính sách xã hội là điều kiện để mở rộng thêm các đối tượng phục vụ là hộ nghèo, học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, các đối tượng chính sách cần vay vốn để giải quyết việc làm, đi lao động có thời hạn ở nước ngoài và các tổ chức kinh tế, cá nhân hộ sản xuất, kinh doanh thuộc các xã đặc biệt khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, 6 khu vực II và III.
Các đối tượng phục vụ của NHCSXH bao gồm người nghèo và một số đối tượng chính sách khác. Ngân hàng Chính sách xã hội có bộ máy quản lý và điều hành thống nhất trong phạm vi cả nước, với vốn điều lệ ban đầu là 5 nghìn tỷ đồng và được cấp bổ sung phù hợp với yêu cầu hoạt động từng thời kỳ. Thời hạn hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội là 99 năm (Quyết định số 131/2002/QD-TTg). Ngân hàng Chính sách Xã hội hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, được Nhà nước Việt Nam bảo đảm khả năng thanh toán.
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng bằng 0%. Ngân hàng không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi và được miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước (Quyết định số 131/2002/QD-TTg). NHCSXH đã chọn lọc một phương pháp quản lý phù hợp, đó là thông qua hình thức ủy thác từng phần, ủy thác một số công đoạn trong quy trình tín dụng cho các tổ chức chính trị - xã hội. Thực hiện bình xét công khai hộ đủ điều kiện vay vốn, hướng dẫn người vay sử dụng vốn tại các Tổ Tiết kiệm và vay vốn.
Cán bộ ngân hàng giải ngân trực tiếp cho các hộ nghèo vay vốn tại các điểm giao dịch tại xã. Cho vay ủy thác Theo Điều 3 trong Quyết định 742/QĐ-NHNN thì Ủy thác cho vay (trong tiếng Anh là Entrusted Loan) là việc bên ủy thác giao vốn cho bên nhận ủy thác thông qua hợp đồng ủy thác cho vay để trực tiếp cho vay đến các đối tượng khách hàng, bên ủy thác trả phí cho bên nhận ủy thác. Nhận ủy thác cho vay là việc bên nhận ủy thác nhận vốn của bên ủy thác để thực hiện cho vay đối với khách hàng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định của pháp luật có liên quan; bên nhận ủy thác cho vay được hưởng phí ủy thác cho vay do bên ủy thác trả (NHNN, 2018). Uỷ thác cho vay có một số đặc điểm sau: - Bên ủy thác cho vay có thể là Chính phủ, các tổ chức kinh tế, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức tín dụng, các cá nhân trong và ngoài nước có nhu cầu vay vốn tín dụng đến các đối tượng khách hàng.
- Những khách hàng vay này sẽ vay trực tiếp từ các ngân hàng thương mại (bên nhận ủy thác). 7 - Bên nhận ủy thác cho vay là các tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng, có chức năng cấp tín dụng dưới hình thức cho vay vốn theo qui định của pháp luật. - Ngoài ra, ngân hàng nhận ủy thác còn phải đảm bảo đủ các điều kiện như có mạng lưới tổ chức để đáp ứng được yêu cầu trực tiếp cho vay và thu nợ đến từng đối tượng khách hàng; có đội ngũ cán bộ có trình độ và chuyên môn hóa cũng như kinh nghiệm trong việc thực hiện cho vay và thu nợ; không vi phạm các qui định an toàn trong hoạt động ngân hàng, có tín nhiệm trong việc cho vay, thu nợ và bảo đảm an toàn vốn vay. Theo Hướng dẫn nghiệp vụ cho vay của VBSP, ban hành tháng 11 năm 2015 thì thủ tục và quy trình cho vay uỷ thác tại VBSP như sau: Hồ sơ vay vốn (02 bộ) gồm: Bước 1: Khi có nhu cầu vay vốn, người vay viết Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay gửi Tổ TK&VV nơi cư trú.
Bước 2: Tổ TK&VV cùng tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác cấp xã và Trưởng thôn chứng kiến, giám sát tổ chức họp để bình xét công khai những hộ nghèo đủ điều kiện vay vốn, lập Danh sách hộ gia đình đề nghị vay vốn NHCSXH, trình UBND cấp xã xác nhận là đối tượng được vay vốn và cư trú hợp pháp tại xã. Bước 3: Tổ TK&VV gửi hồ sơ đề nghị vay vốn tới Ngân hàng (bao gồm Giấy đề nghị vay vốn và Danh sách hộ gia đình đề nghị vay vốn). Bước 4: Ngân hàng kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của bộ hồ sơ cho vay cho vay và thông báo tới UBND cấp xã Danh sách hộ gia đình được vay vốn. Bước 5: UBND cấp xã thông báo cho tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác cấp xã.
Bước 6: Tổ chức chính trị - xã hội cấp xã thông báo cho Tổ TK&VV. Bước 7: Tổ TK&VV thông báo cho người vay vốn biết Danh sách hộ được vay, thời gian và địa điểm giải ngân. Bước 8: Ngân hàng thực hiện giải ngân trực tiếp cho người vay tại Điểm giao dịch xã đặt tại trụ sở UBND cấp xã nơi người vay cư trú hoặc tại trụ sở NHCSXH nơi cho vay có sự chứng kiến của tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác cấp xã và Tổ TK&VV. Quản lý vốn vay ủy thác Quản lý vốn vay ủy thác là quá trình hoạch định, tổ chức thực hiện, lãnh đạo và kiểm soát các công việc thực hiện cho vay vốn tín dụng ưu đãi đến với người nghèo của các tổ chức chính trị mà NHCSXH đã ký hợp đồng ủy thác nhằm hiện 8 thực hoá những mục tiêu của chính sách tín dụng ưu đãi người nghèo trong thực tế cuộc sống, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững gắn với công tác xóa đói giảm nghèo góp phần đảm bảo ổn định và công bằng xã hội.Vai trò của việc ủy thác cho vay vốn của NHCSXH đối với HLHPN Việc ủy thác cho vay của NHCSXH đối với Hội liên hiệp phụ nữ có vai trò sau đây: - Công khai hóa, xã hội hóa hoạt động của NHCSXH.
- Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của tổ chức Hội liên hiệp phụ nữ giúp cho hội viên phụ nữ được tiếp cận, thụ hưởng các chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ, tạo nên một kênh dẫn vốn hữu hiệu, tin cậy đối với các hội viên phụ nữ và cấp ủy Đảng, chính quyền. - Củng cố hoạt động của Hội liên hiệp phụ nữ ở cơ sở. Thông qua hoạt động tín dụng, Hội liên hiệp phụ nữ ở cơ sở có điều kiện quan tâm hơn đến hội viên phụ nữ của tổ chức mình, làm cho sinh hoạt Hội phụ nữ có nội dung phong phú hơn. - Thông qua việc ủy thác cho vay, Hội liên hiệp phụ nữ có thể lồng ghép việc triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị khác, góp phần tiết giảm chi phí xã hội.
- Giúp cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác tiếp cận với dịch vụ tài chính, tiết kiệm của NHCSXH một cách nhanh chóng, thuận lợi, an toàn và hiệu quả, tiết kiệm thời gian và chi phí khi vay vốn. - Thông qua việc bình xét hộ vay vốn công khai, dân chủ, phát huy vai trò của Hội liên hiệp phụ nữ đảm bảo đưa vốn đến đúng đối tượng thụ hưởng (NHCSXH, 2009a). Đặc điểm vốn vay ủy thác của NHCSXH tại Hội LHPN Căn cứ theo nội dung hoạt động của NHCSXH năm 2009 chúng tôi rút ra đặc điểm vốn vay ủy thác của NHCSXH tại Hội LHPN bao gồm các đặc điểm sau: - Về nguồn vốn: Nguồn vốn vay ủy thác là nguồn vốn tín dụng chính sách được NHCSXH trực tiếp giải ngân cho các đối tượng vay vốn tại các điểm giao dịch các xã. - Về đối tượng: Là hội viên phụ nữ thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo theo qui định chuẩn nghèo của Chính phủ; học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn đang học ĐH, CĐ, THCN và học nghề; các đối tượng cần vay vốn để giải quyết việc làm; các đối tượng chính sách cần vay vốn để giải quyết việc làm.
9 - Nguyên tắc vay vốn: Bên vay vốn phải đảm bảo nguyên tắc sử dụng vốn đúng mục đích xin vay; hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận.