phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, danh mục sơ đồ, bảng biểu, Luận văn bao gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Tổng quan về Tổ chức công tác kế toán trong Ngân hàng thƣơng mại. Thực trạng Tổ chức công tác kế toán tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung. Hoàn thiện Tổ chức công tác kế toán tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung.
Do kiến thức, kinh nghiệm thực tế còn hạn chế, thời gian nghiên cứu về thực trạng tổ chức công tác kế toán tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung có hạn, nên bài luận văn của em còn nhiều thiếu sót. Vì vậy, em mong nhận đƣợc sự góp ý từ các thầy giáo, cô giáo để bài luận văn của em thêm hoàn thiện. Em xin chân thành cảm ơn sự hƣớng dẫn tận tình của giảng viên TS.Phạm Thị Minh Tuệ, cùng sự giúp đỡ của các đồng nghiệp thuộc Phòng tài chính kế hoạch Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung đã giúp em hoàn thành bài luận văn này. 7 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Khái quát chung về ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm Theo Điều 20 Luật Các Tổ chức tín dụng sửa đổi bổ sung của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2017, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 01 năm 2018: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm Ngân hàng thƣơng mại, ngân hàng đầu tƣ, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác. NHTM là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”.
Ngân hàng là một DN có quy mô vốn chủ sở hữu và tổng tài sản lớn, có mạng lƣới các chi nhánh rộng khắp cả nƣớc, theo quy định của Việt Nam hiện nay thì ngân hàng phải có vốn điều lệ tối thiểu là ba nghìn tỷ đồng. Tuy có vốn chủ sở hữu lớn nhƣng vốn của ngân hàng lại chủ yếu có đƣợc từ nợ phải trả huy động đƣợc từ các cá nhân, tổ chức bên ngoài ngân hàng, nên hoạt động của ngân hàng thƣơng mại cũng có rủi ro cao hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác, một phần do hệ số nợ cao, một phần do các nghiệp vụ của ngân hàng đa dạng, phong phú và có tính chất phức tạp. Cũng vì là loại hình doanh nghiệp đặc biệt nên ngân hàng thƣơng mại chịu sự quản lý chặt chẽ của hệ thống pháp luật. Chức năng của Ngân hàng thƣơng mại Ngân hàng thƣơng mại đóng vai trò then chốt trong sự phát triển nền kinh tế xã hội của đất nƣớc, do đảm nhiệm những chức năng quan trọng sau: * Chức năng trung gian tín dụng Đây đƣợc coi là chức năng quan trọng nhất của NHTM, do chức năng này đã phản ánh bản chất của ngân hàng là đi vay để cho vay.
Hơn nữa đây cũng là tiền đề các chức năng khác của ngân hàng đƣợc thực hiện. Với chức năng này, ngân hàng vừa đóng vai trò là ngƣời đi vay, vừa đóng vai trò là ngƣời cho vay, sau đó hình thành lợi nhuận từ sự chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất nhận tiền gửi. Ngân hàng thƣơng mại chính là trung gian kết nối giữa cá nhân, tổ chức có vốn với các cá nhân, tổ chức cần vốn. Ngƣời có vốn Ngân hàng Ngƣời cần vốn Gửi tiền Cho vay Sơ đồ 1.
Mô tả chức năng trung gian tín dụng của Ngân hàng Thƣơng mại Chức năng này không chỉ đem lại lợi ích cho ngân hàng mà còn đem lại lợi ích cho cả ngƣời đi vay và ngƣời cho vay. Ngƣời cho vay có thể thu lợi từ khoản vốn nhàn rỗi của mình thông qua lãi tiền gửi, hơn nữa khoản tiền nhàn rỗi của họ sẽ đƣợc đảm bảo an toàn bằng sự quản lý của ngân hàng. Ngƣời đi vay sẽ đƣợc đáp ứng nhu cầu vốn của mình để phục vụ việc tiêu dùng, kinh doanh, và cũng không tốn quá nhiều chi phí cho việc tìm kiếm nguồn vốn riêng lẻ. Ngoài ra, chức năng này còn đẩy mạnh sự phát triển của nền kinh tế vì thông qua nó nhu cầu vốn của doanh nghiệp đƣợc đáp ứng để phục vụ vào công việc tái SXKD và mở rộng quy mô sản xuất.
Trong NHTM thì hoạt động huy động vốn và hoạt động cho vay là hai hoạt động quan trọng, và đem lại lợi nhuận chính cho ngân hàng. * Chức năng trung gian thanh toán 9 Khi khách hàng có nhu cầu sử dụng tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để giao dịch thanh toán hàng hóa, dịch vụ, hay chuyển tiền đến một tài khoản khác, khách hàng sẽ yêu cầu ngân hàng để ngân hàng tiến hành các giao dịch đó. Phƣơng thức thanh toán đƣợc ngân hàng cung cấp rất đa dạng cả ở trong nƣớc và nƣớc ngoài để phục vụ khách hàng nhƣ séc, ủy nhiệm chi, thẻ tín dụng…dựa vào nhu cầu khác nhau, mà khách hàng có thể chọn các phƣơng thức thanh toán khác nhau. Nhờ có các phƣơng thức thanh toán ngân hàng cung cấp, các chủ thể kinh tế không phải nắm giữ nhiều tiền mặt, có thể thanh toán dù khoảng cách địa lý xa hay gần, không nhất thiết phải gặp mặt trực tiếp các chủ nợ.
Vì vậy, thời gian và chi phí sẽ đƣợc giảm đi rất nhiều, hơn nữa thanh toán qua ngân hàng có tính an toàn rất cao. Cũng nhờ chức năng này tốc độ thanh toán nhanh hơn, lƣu thông hàng hóa đƣợc đẩy mạnh, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Việc thực hiện thanh toán qua ngân hàng đã giảm đƣợc lƣợng tiền mặt lƣu thông ngoài thị trƣờng. Khi cung cấp các phƣơng tiện thanh toán, ngân hàng sẽ thu lệ phí, đây là một khoản làm tăng lợi nhuận của ngân hàng.
Hơn nữa, việc thực hiện chức năng thanh toán tạo điều kiện để ngân hàng huy động tiền gửi của ngƣời dân cũng nhƣ doanh nghiệp ở mức tối đa, tạo nguồn vốn cho quá trình đầu tƣ, mở rộng hoạt động kinh doanh của mình. Chức năng thanh toán chính là cơ sở hình thành chức năng tạo tiền. * Chức năng tạo tiền NHTM không có chức năng phát hành tiền, nhƣng có khả năng tạo ra tiền ghi sổ, đƣợc thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng. Chức năng này đƣợc thực hiện thông qua hoạt động phát tín dụng, ngân hàng không chỉ cho vay dựa trên số tiền gửi mà mình huy động đƣợc, mà khi thực hiện giải ngân thì số tiền khách hàng vay sẽ đƣợc ghi thẳng vào tài khoản của ngƣời đi vay, và ngƣời vay sẽ dùng các 10 phƣơng thức thanh toán để tiến hành chuyển tiền.
Nhờ lƣợng tiền ghi sổ này mà NHTM đã đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh toán ngày càng tăng của ngƣời dân. Giờ đây tiền sử dụng để giao dịch không còn chỉ là tiền giấy do NHNN phát hành mà còn bao gồm một lƣợng không hề nhỏ tiền ghi sổ do các NHTM tạo ra. Từ đó, sẽ tiết kiệm đƣợc một khoản chi phí lớn của việc in ấn, phát hành tiền giấy, cũng nhƣ làm tăng tổng phƣơng diện thanh toán của nền kinh tế. Chức năng này cũng đã chỉ ra mối liên hệ giữa tín dụng ngân hàng và lƣu thông tiền tệ, tín dụng ngân hàng tăng sẽ làm tăng khả năng tạo tiền từ đó làm tăng lƣợng tiền cung ứng.
Các chức năng trên có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau. Chức năng trung gian tín dụng tạo cơ sở cho việc thực hiện chức năng trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền. Ngƣợc lại, chức năng trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền lại góp phần đẩy mạnh việc mở rộng tín dụng. Đặc điểm về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thƣơng mại Theo Luật Tổ chức tín dụng 2010 “ Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thƣờng xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: a) Nhận tiền gửi; b) Cấp tín dụng; c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.” Từ đó, tổ chức và hoạt động của NHTM có những đặc điểm nhƣ sau: * Ngân hàng thƣơng mại là doanh nghiệp có quy mô lớn và cấu trúc tài sản đặc biệt Về khía cạnh vốn chủ sở hữu và tổng tài sản thì NHTM là loại hình DN lớn.
Vốn chủ sở hữu của các NHTM ở Việt Nam đều là hàng nghìn tỷ đồng, với mạng lƣới chi nhánh rộng khắp và trải dài khắp các tỉnh thành trên cả nƣớc. Ngân hàng có vốn chủ sở hữu rất lớn nhƣng nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng lại đến từ hoạt động huy động vốn của các đối tƣợng bên ngoài ngân hàng. Tài sản của ngân hàng thì chủ yếu là các tài sản tài chính, và ngân hàng thƣờng có xu hƣớng liên tục phát triển sản phẩm, công cụ tài chính mới. 11 * Hoạt động của NHTM có rủi ro cao và chịu sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ của pháp luật NHTM có hệ số nợ cao, hơn nữa nguồn vốn nợ này lại đến từ tiền gửi của khách hàng với đặc điểm có thể rút trƣớc hạn, vì vậy hoạt động của ngân hàng có rủi ro cao, hơn nữa rủi ro này rất đa dạng và có tính lan tỏa cao.
Rủi ro trong hoạt động của NHTM bao gồm các loại rủi ro đặc thù nhƣ rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro vốn khả dụng, rủi ro đạo đức,… NHTM là DN có quy mô lớn, mạng lƣới rộng khắp, rủi ro cao, và hoạt động của ngân hàng ảnh hƣởng lớn đến hoạt đông chung của toàn nền kinh tế. Do vậy mà hoạt động của ngân hàng chịu sự quản lý, giám sát chặt chẽ từ phía Nhà nƣớc. Các quy định áp dụng đối với NHTM đƣợc thể hiện trên nhiều mặt của hoạt động kinh doanh nhƣ: điều kiện kinh doanh, tiêu chuẩn của ngƣời lãnh đạo NH, dự trữ bắt buộc, bảo hiểm tiền gửi, an toàn trong hoạt động, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, sử dụng vốn tự có đầu tƣ cho tài sản cố định,… * Tính liên kết và ổn định của hệ thống NHTM Hệ thống NHTM có tính phụ thuộc lẫn nhau rất lớn.