phần mở đầu, kết luận, danh mục các bảng biểu, biểu đồ, từ viết tắt, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được chia làm ba chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kế toán và rủi ro trong hoạt động kế toán của Ngân hàng thương mại. Chƣơng 2: Thực trạng rủi ro trong hoạt động kế toán tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Chƣơng 3: Giải pháp phòng ngừa rủi ro trong hoạt động kế toán tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam. 1 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN VÀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KẾ TOÁN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Cơ sở lý luận về kế toán ngân hàng thƣơng mại 1.1 Kế toán ngân hàng 1.1 Đối tƣợng kế toán ngân hàng Kế toán ngân hàng là nghệ thuật ghi chép, phân loại, tổng hợp và giải thích các nghiệp vụ tác động đến tình hình tài chính của các ngân hàng bằng thước đo tiền tệ, nhằm cung cấp thông tin về tình hình và kết quả hoạt động của ngân hàng, làm cơ sở cho việc ra quyết định kinh tế liên quan đến mục tiêu quản lý kinh doanh và đánh giá hoạt động của ngân hàng.
Thông thường, kế toán được xác định theo đối tượng phục vụ, tức những chủ thể sử dụng các thông tin tài chính của ngân hàng. Với kế toán ngân hàng đối tượng phục vụ chủ yếu của nó là: -Các quản trị viên của ngân hàng: Các quản trị viên của ngân hàng sử dụng thông tin tài chính do kế toán cung cấp nhằm mục tiêu chủ yếu là giúp cho việc hình thành các quyết định bên trong ngân hàng, do đó những thông tin này mang tính chất nội bộ và vì vậy các báo cáo của kế toán có thể không cần phải tuân thủ hoàn toàn các nguyên tắc kế toán đã thừa nhận. -Các nhà đầu tư, cơ quan tài chính, cơ quan pháp luật, thị trường chứng khoán …và một số chủ thể khác bên ngoài ngân hàng. Các đối tượng này đòi hỏi những thông tin mà họ được cung cấp phải thể hiện được các mục tiêu tổng quát, đảm bảo tính trung thực, hợp lý và đáng tin cậy.
Do đó các báo cáo tài chính mà kế toán ngân hàng cung cấp cho các đối tượng trên cần phải tuân theo các chuẩn mực nhất định đã được thừa nhận. Như vậy, kế toán ngân hàng giữ vị trí then chốt, ảnh hưởng đến quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng.2 Báo cáo tài chính của ngân hàng Báo cáo tài chính cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của ngân hàng thương mại, đáp ứng nhu cầu hữu ích 2 cho số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế. Những người sử dụng thông tin báo cáo tài chính chủ yếu là bên ngoài ngân hàng thương mại như: các nhà quản lý, điều hành ngân hàng; các nhà đầu tư; các đối tác kinh doanh, khách hàng. Hệ thống báo cáo tài chính mà Giám đốc ngân hàng chịu trách nhiệm lập và trình bày bao gồm: -Báo cáo cân đối kế toán (Phụ lục 1.2) -Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Phụ lục 1.3) -Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Phụ lục 1.4) -Bản thuyết minh báo cáo tài chính Tình hình tài chính của các ngân hàng ở mọi loại hình sở hữu đều thể hiện qua tài sản và nguồn hình thành tài sản tại một thời điểm theo phương trình kế toán (Accounting equation): Tài sản = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu (Assets = Liabilitie + owner’s equity) Tài sản là nguồn lực do ngân hàng kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai.
Lợi ích kinh tế trong tương lai mà tài sản mang lại là tiềm năng làm tăng nguồn tiền và các khoản tương đương tiền của ngân hàng hoặc làm giảm bớt các khoản tiền mà ngân hàng chi ra. Tài sản được biểu hiện dưới dạng vật chất như nhà trụ sở, máy ATM…hoặc dưới hình thái vật chất như phần mềm máy vi tính… Nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại mà ngân hàng phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã qua mà ngân hàng phải thanh toán từ nguồn lực của mình.Ví dụ như tiền gửi của khách hàng phát sinh từ hoạt động huy động vốn mà ngân hàng có nghĩa vụ trả cho khách hàng khi được yêu cầu. Vốn chủ sở hữu là giá trị vốn của ngân hàng được tính bằng số chênh lệch giữa giá trị tài sản của ngân hàng trừ nợ phải trả. Vốn chủ sở hữu bao gồm vốn góp của các nhà đầu tư, thặng dư vốn góp cổ phần, lợi nhuận giữ lại, các quỹ, lợi nhuận chưa phân phối, chênh lệch tỷ giá và chênh lệch đánh giá lại tài sản.
3 Bảng cân đối kế toán phản ánh tình hình tài chính của ngân hàng tại thời điểm cuối kỳ kế toán được thiết lập đảm bảo yêu cầu cân bằng của phương trình kế toán: Tổng tài sản nợ = Tổng tài sản có Còn báo cáo thu nhập chi phí hay còn gọi là báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh kết quả kinh doanh của ngân hàng trong kỳ kế toán. Kết quả kinh doanh của ngân hàng trong kỳ được tính như sau: Lãi thuần (Lỗ thuần) = Thu nhập – Chi phí 1.2 Nguyên tắc kế toán 1.1 Môi trƣờng kế toán và giới hạn kế toán Môi trường kế toán ngân hàng phụ thuộc vào các quan điểm, chuẩn mực, phương thức kế toán thừa nhận ghi trong luật kế toán thống nhất ở Việt Nam, phù hợp với chuẩn mực đạo đức của xã hội, đồng thời phù hợp với đặc điểm tổ chức kinh doanh đặc biệt của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Trong số các yếu tố môi trường các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến kế toán gồm: - Hệ thống luật pháp có liên quan như Luật Doanh nghiệp, Luật thương mại, Luật các tổ chức tín dụng và Luật kế toán Việt Nam. - Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế và Việt Nam.
- Hệ thống tài khoản kế toán ngân hàng ban hành theo quyết định số 479/2004/QĐ-NHNN 29/4/2004 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam. - Các quy định nghiệp vụ và các văn bản liên quan khác. Kế toán ngân hàng được giới hạn nhưlà một chủ thể kinh doanh độc lập, kỳ kế toán với đồng tiền cố định và hoạt động liên tụctheo quy định chung. Mỗi ngân hàng là một chủ thể kinh doanh độc lập với nhau, một ngân hàng bao gồm một trụ sở chính và nhiều chi nhánh đặt ở các địa điểm khác nhau.Ví dụ như Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam có trụ sở chính tại Hà Nội và các chi nhánh được đặt ở các tỉnh, thành phố trong cả nước.
Các chi nhánh tiến hành hoạt động kinh doanh theo sự ủy quyền của Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc của ngân hàng.Với cơ cấu tổ chức như vậy, kế toán ngân hàng tại các chi nhánh chỉ 4 ghi chép và phản ánh hoạt động kinh doanh trong phạm vi được ủy quyền, còn kế toán ngân hàng tại trụ sở chính của mỗi ngân hàng sẽ tập hợp thông tin từ các chi nhánh để lập báo cáo tài chính của ngân hàng với tư cách là một chủ thể kinh doanh độc lập. Đời sống của các chi nhánh ngân hàng kéo dài trong khoảng thời gian đủ để có thể thực hiện những hoạt động dự kiến và đảm bảo thực hiện những cam kết đã định.Giả định này được cụ thể hóa thông qua các tài khoản cho vay, tiền gửi có kỳ hạn, dự thu, dự chi tiền lãi, dự phòng nợ phải thu khó đòi, khấu hao…Tuy nhiên như đã trình bày ở trên, các chi nhánh ngân hàng chỉ hạch toán một số nghiệp vụ nhất định chứ không phải tất cả, vì vậy có một số nghiệp vụ theo dõi trên sổ sách tại trụ sở chính.Ví dụ như các khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi. Tất cả các ngân hàng đều tổ chức công tác kế toán trên cơ sở đơn vị đo lường duy nhất là tiền tệ. Sử dụng đồng tiền làm đơn vị đo lường hàm ý thừa nhận tiền là đơn vị đo lường có giá ổn định, không chịu tác động của hiện tượng lạm phát hoặc giảm phát.
Việc phân chia đời sống ngân hàng thành niên độ (kỳ kế toán) bao hàm ý nghĩa ngân hàng cần cung cấp thông tin về tình hình tài chính theo định kỳ. Định kỳ đó có thể trùng khớp với niên lịch, có thể không nhưng bao giờ cũng tôn trọng nguyên tắc: định kỳ đó bao trùm một năm hoạt động của ngân hàng. Ở Việt Nam, việc phân chia định kỳ thông tin cần báo cáo của ngân hàng là phù hợp với niên lịch, năm tài chính bắt đầu từ 1.1 và kết thúc vào 31.2 Nguyên tắc kế toán Các báo cáo tài chính của ngân hàng được thiết lập cần đáp ứng yêu cầu: thể hiện một cách trung thực nhất tình hình kinh tế, pháp lý và tài chính của ngân hàng, dựa trên cơ sở tiêu chuẩn: Tính hợp lệ: Phù hợp với những luật lệ quy định hiện hành hoặc với những nguyên tắc kế toán được thừa nhận. Tính trung thực: Các thông tin cung cấp được thiết lập với ý đồ trung thực, không gian lận.
5 Tính khách quan: Thể hiện đầy đủ, khách quan tình hình hoạt động kinh doanh thực tế của ngân hàng. Để đảm bảo thông tin kế toán ngân hàng đáp ứng các tiêu chuẩn trên, thông tin kế toán cần được hình thành, đánh giá trong một giới hạn cụ thể, một phạm vi phản ánh cụ thể và theo một số nguyên tắc: Nguyên tắc về giá (hạch toán): Phần lớn tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc hoặc giá hợp lý. Giá gốc của tài sản được tính theo số tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị hợp lý của tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận. Ví dụ: khi NHTM mua chứng khoán kinh doanh thì giá trị của chứng khoán mua về được kế toán phản ánh bao gồm giá mua và chi phí mà NHTM bỏ ra để mua chứng khoán.
Nguyên tắc cơ sở dồn tích: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của NHTM liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hay thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền. Ví dụ: ngày 1/12/N ngân hàng nhận tiền gửi tiết kiệm của khách hàng là 100 triệu đồng, kỳ hạn 3 tháng, lãi suất 0,6%/tháng, lĩnh lãi khi đáo hạn. Số tiền ngân hàng thực chi trả lãi vào ngày đáo hạn là ngày 1/3/N+1, tức là vào năm sau.