Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ và quy trình kiểm soát nội bộ của Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng quy trình kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam. Chương 3: Giải pháp và kiến nghị hoàn thiện quy trình kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam. 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ QUY TRÌNH KIỂM SOÁT NỘI BỘ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ 1. Khái niệm về kiểm soát nội bộ Theo COSO (2016), KSNB là một quá trình do con ngƣời quản lý, hội đồng quản trị và các nhãn viên của đơn vị chi phối, nó đƣợc thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý, nhằm cho báo cáo tài chính đáng tin cậy, các luật lệ và quy định đƣợc tuân thủ, hoạt động hữu hiệu và hiệu quả. KSNB đƣợc hiểu là “một quá trình đƣợc thiết kế và chịu sự chi phối của các nhà quản lý và các nhân viên trong một tổ chức nhằm cung cấp sự đảm bảo hợp lý về việc đạt đƣợc các mục tiêu lien quan đến độ tin cậy của BCTC, hiệu quả hoạt động và hiệu năng quản lý và tuân thủ các quy định, luật lệ”. Qua các quan điểm về KSNB nêu trên thì KSNB quả là rất cần thiết trong bất cứ thực thể kinh tế nào, trong đó bao gồm cả ngân hàng.
KSNB có những nội dung chính sau: Một là, KSNB là một quá trình, KSNB không phải là một tình huống hay một sự kiện. Nó là cả một chuỗi các hoạt động đƣợc thực hiện ở toàn doanh nghiệp. Kiểm soát luôn tồn tại và đƣợc thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quá trình hoạt động, quá trình quản lý. Kiểm soát tồn tại trong suốt quá trình quản lý.
Kiểm soát đƣợc thực hiện trƣớc, trong và sau mỗi hoạt động định hƣớng hoặc tổ chức để thực hiện hoặc điều chỉnh mỗi hoạt động đó. Hai là, KSNB bị chi phối bởi con ngƣời trong đơn vị. Những ngƣời có khả năng chi phối KSNB đó là Ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên. Các mục tiêu cùng với những cơ chế kiểm soát đều do chính con ngƣời đặt ra.
Bên cạnh đó thì KSNB có thể tác động lại vào hành vi của con ngƣời. Khi bắt tay vào công việc mỗi cá nhân có khả năng, cách thức, lối suy nghĩ và hành động khác nhau, KSNB sẽ tạo ra ý thức kiểm soát ở mỗi cá nhân, từ đó hƣớng các hoạt động của mọi ngƣời đến mục tiêu chung của đơn vị. 9 Ba là, KSNB đảm bảo hợp lý. KSNB chỉ có thể cung cấp sự đảm bảo hợp lý cho các nhà quản lý để hƣớng đến việc đạt đƣợc mục tiêu của đơn vị.
Nhƣ vậy, trên các phƣơng diện tiếp cận thì KSNB đƣợc diễn đạt khác nhau, xong bản chất của KSNB là hệ thống những quy định tài chính và quy định phi tài chính do các nhà quản lý lập ra để điều hành và quản lý toàn bộ hoạt động của toàn doanh nghiệp theo một cách có trình tự và hiệu quả, đảm bảo tuân thủ pháp luật. Mục tiêu của kiểm soát nội bộ Với bản chất trên, KSNB đƣợc thiết kế và vận hành theo các mục tiêu sau: Mục tiêu về sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động: Quá trình kiểm soát tại các công đoạn, gây ra sự lãng phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh và sử dụng kèm hiệu quả các nguồn lực trong doanh nghiệp. Với ngân hàng có loại hình kinh doanh đặc thù riêng về tiền tệ, dễ xảy ra rủi ro gây tác hại đến ngân hàng, ảnh hƣởng đến nền kinh tế quốc gia, vì vậy nhà quản lý đặt ra yêu cầu kiểm soát để tránh rủi ro, sử dụng vốn huy động hiệu quả, tăng hiệu quả kinh doanh. Bên cạnh đó, định kỳ các nhà quản lý thƣờng đánh giá kết quả hoạt động kèm với cơ chế giám sát của HTKSNB nhằm nâng cao khả năng quản lý, điều hành của bộ máy quản lý tại đơn vị.
Mục tiêu về sự tin cậy của BCTC: Thông tin BCTC do bộ máy kế toán xử lý và tổng hợp là căn cứ quan trọng cho việc hình thành các quyết định của các nhà quản lý. Nhờ có HTKSNB hữu hiệu, hệ thống thông tin quản lý, thông tin BCTC luôn đảm bảo trung thực, hợp lý, đầy đủ, minh bạch, kịp thời và đƣợc bảo mật theo đúng quy định của pháp luật. Mục tiêu về sự tuân thủ các luật lệ và quy định: Các quy trình đƣợc thực hiện một cách nghiêm túc, triệt để. Đảm bảo các quyết định và chế độ quản lý đƣa ra trên cơ sở đã đƣợc các cơ quan quản lý có thẩm quyền ban hành, đƣợc thực hiện đúng thể thức và giám sát mức độ hiệu quả cũng nhƣ tính hợp lý của các chế độ.
Đảm bảo việc ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác cũng nhƣ việc lập BCTC trung thực và khách quan. Các yêu cầu và nguyên tắc hoạt động của kiểm soát nội bộ trong Ngân hàng thương mại 10 Theo nhƣ Báo cáo Basel (1998), HTKSNB trong ngân hàng về cơ bản gồm các nguyên tắc sau: Giám sát điều hành và văn hoá kiểm soát: Hội đồng quản trị (HĐQT) có trách nhiệm xét duyệt, kiểm tra chiến lƣợc kinh doanh, chính sách của ngân hàng, hiểu những rủi ro trọng yếu của ngân hàng. Ban điều hành chịu trách nhiệm thực hiện chiến lƣợc của HĐQT, có sự phân công trách nhiệm rõ ràng trách nhiệm giữa các bộ phận. Làm cho nhân viên hiểu rõ tầm quan trọng của kiểm soát.
Nhận biết và đánh giá rủi ro: Xác định, đánh giá những rủi ro trọng yếu nhƣ rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản.ảnh hƣởng đến việc thực hiện kế hoạch của ngân hàng. Hoạt động kiểm soát, phân công phân nhiệm: Hoạt động kiểm soát diễn ra hàng ngày tại ngân hàng. Phân công hợp lý công việc. Thông tin truyền thông: Thông tin tin cậy, kịp thời, sử dụng dữ liệu bằng máy tính an toàn, bảo mật.
Giám sát và sửa chữa sai phạm trọng yếu: Hiệu quả của HTKSNB là việc theo dõi và kiểm tra liên tục. Những sai phạm trọng yếu phải đƣợc báo cáo kịp thời đến Ban điều hành và HĐQT. Đánh giá HTKSNB thông qua cơ quan thanh tra ngân hàng: Ngân hàng phải có HTKSNB phù hợp với sự thay đổi của môi trƣờng kinh doanh. Các yếu tố cấu thành kiểm soát nội bộ KSNB đƣợc nghiên cứu và thiết kế trên 5 yếu tố: Môi trƣờng kiểm soát; Đánh giá rủi ro; Các hoạt động kiểm soát; Hệ thống thông tin và truyền thông và giám sát.
Thứ nhất, Môi trƣờng kiểm soát. Môi trƣờng kiểm soát đƣợc thiết lập trong nội bộ tổ chức và có ảnh hƣởng đến nhận thức kiểm soát của tất cả các nhân viên trong ngân hàng. Cũng có thể hiểu, môi trƣờng kiểm soát là những nhân tố của đơn vị ảnh hƣởng đến hoạt động của HTKSNB và là các yếu tố tạo môi trƣờng trong đó toàn bộ thành viên của ngân hàng nhận thức đƣợc tầm quan trọng của KSNB. 11 Môi trƣờng kiểm soát tạo ra sắc thái chung trong ngân hàng, nơi mỗi ngƣời thực hiện nghĩa vụ kiểm soát của mình.
Môi trƣờng kiểm soát gồm môi trƣờng bên trong và môi trƣờng bên ngoài ngân hàng, có tính môi trƣờng tác động đến việc thiết kế, hoạt động, xây dựng và tổ chức kiểm soát thực hiện các chính sách, chế độ, quy định của ngân hàng. Các nhân tố của môi trƣờng kiểm soát thể hiện thái độ, quan điểm, nhận thức cũng nhƣ hành động của các nhà quản lý trong ngân hàng. Tại đơn vị, hoạt động kiểm tra kiểm soát có hiệu quả hay không chủ yếu phụ thuộc vào quan điểm quản lý của ngân hàng đó. Khi có quan điểm coi trọng hay không coi trọng công tác kiểm tra, KSNB của nhà quản lý thì sẽ kéo theo việc nhận thức và thực hiện của các thành viên trong ngân hàng tuân thủ mọi nội quy, quy định, chế độ đƣợc đề ra.
Trái lại, nếu công tác KSNB không đƣợc các nhà quản lý coi trọng thì các cơ chế của KSNB sẽ hoạt động không đƣợc hiệu quả bởi thành viên của ngân hàng. Các nhân tố của môi trƣờng kiểm soát bao gồm: + Đặc thù về quản lý là các quan điểm khác nhau của các nhà quản lý đơn vị đối với BCTC cũng nhƣ đối với rủi ro kinh doanh, với việc điều hành hoạt động đơn vị. + Cơ cấu tổ chức là một hệ thống chính thức về mối quan hệ vừa độc lập, vừa phụ thuộc trong tổ chức, thể hiện những nhiệm vụ rõ ràng, do ai làm và làm cái gì, liên kết với các nhiệm vụ khác trong tổ chức nhƣ thế nào, nhằm tạo ra một sự phối hợp trong công việc một cách linh hoạt để đáp ứng mục tiêu của tổ chức. Cơ cấu tổ chức cung cấp khuôn khổ về cách hoạt động của đơn vị đƣợc lên kế hoạch, thực hiện, kiểm soát và xem xét.
Cơ cấu tổ chức thực chất là sự phân chia quyền hạn, trách nhiệm giữa các thành viên trong một đơn vị sao cho không bị chồng chéo, bỏ trống, tạo khả năng kiểm tra chéo lẫn nhau. Tại một đơn vị, cơ cấu tổ chức đƣợc xây dựng hợp lý sẽ góp phần vào việc tạo ra môi trƣờng kiểm soát tốt. + Chính sách nhân sự và cam kết về năng lực, thƣờng đề cập đến việc tuyển dụng, định hƣớng, đào tạo, đánh giá, bổ nhiệm, khen thƣởng, bồi thƣờng và các hành động khắc phục hậu quả. Một tổ chức để tuyển dụng cá nhân dựa trên nền tảng 12 của họ đó là sự giáo dục, kinh nghiệm làm việc trƣớc đây, và các thuộc tính khác có liên quan nhƣ sở trƣờng, năng khiếu.
Tiếp theo, lớp học và đào tạo trong công việc cần đƣợc cung cấp cho các nhân viên mới đƣợc tuyển dụng. Đảm bảo khả năng các nhân viên luôn làm đƣợc việc. Đào tạo phù hợp cũng có sẵn cho các nhân viên hiện có để giữ cho mình luôn đƣợc cập nhật kịp thời công nghệ, trình độ và chuyên môn nghiệp vụ. Đánh giá hiệu quả nên đƣợc tiến hành định kỳ để xem xét việc thực hiện của nhân viên thông qua kết quả thực hiện công việc, hiệu suất làm việc, thái độ trong công việc.
Đóng góp ý kiến và phản hồi cho nhân viên về cách cải thiện bản thân và phát triển hơn nữa tiềm năng của họ.