Chương I: Cơ sở lý luận về KSNB đối với hoạt động tín dụng trong NHTM Chương 2: Thực trạng công tác KSNB đối với hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Hải Châu Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác KSNB đối với hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chỉ nhánh Hải Châu 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trong điều kiện nền kinh tế phát triển, Việt Nam đã gia nhập WTO và đang trong quá trình tự do hóa tài chính, sự cạnh tranh giữa các tô chức tín dụng trong và ngoài nước là điều không tránh khỏi. Hầu hết các ngân hàng đều mở rộng quy mô hoạt động, các chỉ nhánh và phòng giao dịch xuất hiện ngày càng nhiều. Sự xuất hiện nhiều chỉ nhánh làm nảy sinh vi ề là các ngân hàng cạnh tranh nhau, dùng mọi cach dé chiếm lĩnh thị phần, thu hút khách hàng.
Chính điều này đã vô tình làm cho việc đánh giá các rủi ro, các bước thực hiện trong quy trình nghiệp vụ, các bước kiểm soát và thủ tục kiểm soát bị hạn chế. Hơn nữa ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc biệt, một khi để xảy ra rủi ro nghiêm trọng thì nó có phản ứng dây chuyền, tác động tới các lĩnh vực kinh tế khác, ảnh hưởng tới hiệu quả của quá trình phân bổ, sử dụng vốn đầu tư và an toàn xã hội. Trong các hoạt động của ngân hàng thì tín dụng là hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận nhiều nhất, nhưng đồng thời cũng là hoạt động tiềm ẩn it nhiều rủi ro. Chính vì vậy, KSNB là công việc rất quan trọng, cần được diễn ra thường ngày tại các ngân hàng, đặc biệt là KSNB trong hoạt động tín dụng.
Trong quá trình làm luận văn, tác giả đã tham khảo một số giáo trình, tài liệu cũng như các bài báo viết về kiểm soát nội bộ nói chung, kiểm soát nội bộ về hoạt động tín dụng trong NHTM nói riêng, như: ~ Giáo trình Kiểm soát nội bộ (2009) của Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh [12] ~ Giáo trình Tía dựng ngân hàng (2000) của TS. Hồ Diệu [2] Từ cơ sở lý luận về êm soát nội bộ, cơ sở lý luận về hoạt động tín dụng. trong NHTM, tác giả có nền tảng để đi sâu nghiên cứu về kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại ngân hàng. Bên cạnh đó, tác giả cũng đã tham khảo một số luận văn viết về chủ đề này, điển hình như: - “Tăng cường kiểm soát tín dụng tại ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Thi Phuong Linh năm 2010 [4].
- “Kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn thành phố Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Thị Bích Ngọc năm 201 1 [6] - “Tăng cường kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội - Chỉ nhánh Đà Nẵng” của tác giả Pham Thi Trà My năm 2011 [5]. Tuy nhiên, các luận văn trên vẫn còn một số hạn chế như: đối với luận văn của tác giả Nguyễn Thị Bích Ngọc thì tác giả chủ yếu viết về kiểm soát nôi bộ trong quy trình xét duyệt tín dụng và giải ngân, chưa viết về hoạt động. của bộ phận kiểm soát nội bộ tại ngân hàng. Trong khi đó, luận văn của hai tác giả còn lại tuy có nêu về hoạt động của bộ phận kiểm soát nội bộ nhưng vẫn chưa nêu cụ thể về kết quả mà bộ phận này đã đạt được trong quá trình kiểm tra hỗ sơ thực tế tại ngân hàng đẻ từ đó có thể đưa ra đánh giá chính xác về hiệu quả hoạt động của bộ phận này.
Nhu vậy, qua một số luận văn cùng chủ dé, tac gia nhận thấy các đề tài nghiên cứu trước đều nghiên cứu về kiểm soát nội bộ qua các bước của quy trình tín dụng tại các chỉ nhánh ngân hàng mà chưa nêu về thực trạng hoạt động cụ thể của phòng kiểm soát nội bộ đối với hoạt động kiểm tra tại chỉ nhánh ngân hàng. Trong khi đó, hoạt động của bộ phận này góp phần kiểm soát và hạn chế được phần nào rủi ro trong hoạt động của ngân hàng. Do đó, trong luận văn này sẽ tập trung nghiên cứu để tìm hiểu thực trạng kiểm soát nội bộ về hoạt động tín dụng một cách cụ thể, từ đó đưa ra các giải pháp để “Hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chỉ nhánh Hải Châu ” trong điều kiện hiện nay. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE KIEM SOAT NOI BO DOI VOI HOAT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
ĐẶC ĐIÊM HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NHTM 1. Hoạt động tín dụng của NHTM a. Khái niệm “Thuật ngữ “tín dụng” xuất phát từ chữ La tinh: Creditium, có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm, trong tiếng Anh gọi là Credit, theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, tín dụng có nghĩa là sự vay mượn. “Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ từ người sở hữu sang người sử dụng và sau đó hoàn trả lại với một lượng giá trị lớn hơn” [2].
Nó thể hiện ở 03 nội dung: + Sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sang người khác. + Sự chuyền giao này mang tính tạm thời. + Khi hoàn lại lượng giá trị đã chuyển giao cho người sở hữu phải kèm theo một lượng giá trị dôi thêm gọi là lợi tức. “Tin dung ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng vốn giữa ngân hàng với các chủ thể kinh tế khác trong xã hội”.
Đây là quan hệ tín dụng gián tiếp mà người tiết kiệm thông qua vai trò trung gian của ngân hàng thực hiện đầu tư vốn vào các chủ thể có nhu cầu vốn. Theo nghĩa nguyên thủy, khái niệm tín dụng là tin mà đưa tiền cho người ta sử dụng. Như vậy, hoạt động tín dụng được hay mất phụ thuộc rất nhiều vào niềm tin của ngân hàng vào người đi vay, hay nói cách khác là phụ thuộc vào chữ tín của KH. Theo nghĩa rộng, chữ tín này bao hàm cả năng lực tài chính và sự sẵn sàng trả tiền của người vay.
Việc hoàn trả được nợ gốc trong tín dụng có nghĩa là việc thực hiện được giá trị hàng hóa trên thị trường, còn việc hoàn trả được lãi vay trong tín dụng là việc thực hiện được giá trị thăng dư trên thị trường. Do đó, có thể xem rủi ro tín dụng cũng là rủi ro kinh doanh nhưng được xem xét dưới góc độ của ngân hàng. b, Chức năng của tín dụng Tín dụng ngân hàng phân phối lại vốn tiền tệ trong nền kinh tế, trên hai mặt sau: ~ Ngân hàng tiến hành huy động vốn và tập trung các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế. ~ Trên cơ sở vồn tập trung được ngân hàng tiến hành cho vay.
Do đó, tín dụng ngân hàng góp phần tiết kiệm tiền trong lưu thông: ~ Ngân hàng phát hành các kỳ phiếu thương mại, các loại séc Ngân hàng thay cho tiền mặt thực chất. ~ Thông qua hoạt động tín dụng sẽ tạo điều kiện phát triển các nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt, từ đó tiết kiệm được tiền mặt trong lưu thông. Tín dụng Ngân hàng có chức năng kiểm soát các hoạt động trong nền kinh tế. Chức năng này được thực hiện qua việc sử dụng và phân tích các chỉ tiêu về huy động vốn, cho vay vốn từ đó cho phép kiểm soát được các hoạt động của nền kinh tế.
e Các loại hình tín dụng ngân hàng Có rất nhiều cách thức đề phân loại tín dụng ngân hàng, như những cách sau: s* Căn cứ vào thời hạn tín dụng ~ Tín dụng ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn đến 12 tháng và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chỉ tiêu ngắn hạn của cá nhân. ~ Tín dụng trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng (5 năm). Tín dụng trung hạn được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. ~ Tín dụng dài hạn: Cho vay này có thời hạn trên 5 năm.
Tín dụng dài hạn được sử dụng đề cấp vốn cho vay xây dựng cơ bản như đầu tư xây dựng xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn. + Căn cứ vào tính chất báo đảm của vốn vay ~ Tín dụng không có tài sản bảo đảm: Là tín dụng không có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào phương án vay vốn khả thi, uy tín của bản thân KH hoặc người bảo lãnh. ~ Tín dụng có tài sản bảo đảm: Là việc thiết lập cơ sở pháp lý để NHTM có được nguồn thu hợp pháp thứ hai từ một tài sản cụ thể ngoài nguồn thu nợ chính thức. Thực hiện dưới các hình thức như: Cầm cố, thế ip, bao dam bằng tài sản hình thành từ vốn vay hoặc sự bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba Cain cứ vào hình thức cấp tín dụng - Cho vay: Ngân hàng giao cho KH sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi ~ Chiết khấu, tái chiết khấu, cầm có thương phiếu và các giấy tờ có giá khác: Ngân hàng thỏa thuận mua thương phiếu hay giấy tờ có giá khác của KH trước khi đến hạn thanh toán.
Giá mua là giá sau khi đã được khá một lượng tiền tính theo lãi suất chiết khấu, thời gian chiết khấu và số chiết khấu. - Bảo lãnh ngân hàng: Là cam kết của ngân hàng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho. KH (bên được bảo lãnh) khi KH không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. ~ Cho thuê tài chính: Là hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn giữa ngân hàng với KH được thực hiện thông qua công ty cho thuê tài chính.
Công ty cho thuê tài chính sở hữu tài sản cho thuê.