Chương 1: Tổng quan vể quản trị rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại NHTM CP Á Châu Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro thanh khoản tại NHTM CP Á Châu 123doc 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm Thanh khoản Dưới góc độ tài sản: “Thanh khoản là khả năng chuyển hóa thành tiền của TS và ngược lại một TS được xem là TK khi đáp ứng được các tiêu chí sau: Có sẵn số lượng để mua hoặc bán, có sẵn thị trường để giao dịch, có sẵn thời gian để giao dịch giá cả hợp lý”. Trong thực tế, những TS có tính TK cao gồm các giấy tờ có giá như tín phiếu NHNN, tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, thương phiếu trên thị trường mở …những TS có tính TK thấp như bất động sản, dây chuyền sản xuất máy móc, thiết bị. Dưới góc độ ngân hàng: “Thanh khoản là khả năng NH đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động KD như chi trả TG, cho vay, thanh toán và các giao dịch TC khác”.
Rủi ro Theo quan điểm truyền thống “Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người”. Theo quan điểm trung hòa “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được”. Rủi ro có tính hai mặt: vừa có tính tích cực vừa có tính tiêu cực. Rủi ro có thể gây ra những tổn thất, mát mát, nguy hiểm …nhưng cũng chính rủi ro có thể mang đến cho con người những cơ hội.
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng thì “Rủi ro là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về TS của NH, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ TC nhất định” Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Rủi ro trong kinh doanh NH có thể được phân thành các loại như sau: RR tín dụng, RR lãi suất, RR tỷ giá hối đoái, RRTK, RR pháp lý, RR uy tín, RR tác nghiệp và các loại RR khác… 123doc 4 Rủi ro tín dụng là loại RR phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của NH, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng Rủi ro lãi suất là loại RR xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi suất thị trường hoặc những yếu tố có liên quan đến lãi suất dẫn đến nguy cơ biến động thu nhập và giá trị ròng của NH. Rủi ro tỷ giá hối đoái trong hoạt động ngân hàng là RR phát sinh trong quá trình cho vay ngoại tệ hoặc quá trình kinh doanh ngoại tệ khi tỷ giá biến động theo chiều hướng bất lợi cho NH. Rủi ro tác nghiệp là nguy cơ tổn thất do các quy trình, con người và hệ thống nội bộ không đạt yêu cầu hoặckhông hoạt động, hay do các sự kiện bên ngoài. Khái niệm rủi ro tác nghiệp bao gồm cả RR luật pháp, nhưng không bao gồm RR chiến lược và RR uy tín doanh nghiệp.
Rủi ro pháp lý: là rủi ro phát sinh do NH bị khởi kiện hoặc khi nhà nước thay đổi đột ngột chính sách vĩ mô về cơ cấu kinh tế, lĩnh vực ưu tiên … thì điều này có thể dẫn đến rủi ro thua lỗ cho NH. Rủi ro danh tiếng: là rủi ro do khách hàng, đối tác, cổ đông, nhà đầu tư hoặc công chúng có phản ứng tiêu cực về mức độ tín nhiệm của NH, gây khó khăn nghiêm trọng cho NH trong việc tiếp cận nguồn vốn hoặc khách hàng rời bỏ NH. Rủi ro thanh khoản Trong lĩnh vực kinh doanh NH cho rằng: RRTK là rủi ro nguy hiểm nhất của NH, có liên quan đến sự sống còn của NH. “RRTK là loại rủi ro khi NH không có khả năng cung ứng đầy đủ lượng tiền mặt cho nhu cầu TK tức thời; hoặc cung ứng với chi phí cao hoặc quá cao”.
Nói cách khác “RRTK là rủi ro xuất hiện trong trường hợp NH thiếu khả năng chi trả, do không chuyển đổi kịp thời các loại TS ra tiền, hoặc không thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán”. “RRTK là rủi ro liên quan đến thiệt hại TC do việc không có khả năng hỗ trợ vốn cho việc tăng giá trị TS hoặc đáp ứng các nghĩa vụ liên quan. Các nghĩa vụ TC phát sinh từ việc thu hồi các khoản TG, tài trợ cho các khoản vay đã được cam kết và trả nợ”. 123doc 5 Như vậy, nhìn từ góc độ NH, có thể hiểu: RRTK là RR phát sinh từ trạng thái mà NH không có đủ vốn khả dụng - cung TK vào thời điểm mà NH cần để đáp ứng cầu TK, trạng thái này tác động xấu tới uy tín, gây tổn thất về TS và thu nhập của NH.2 Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và các loại rủi ro khác Rủi ro thanh khoản không phải là RR đơn lẻ như rủi ro thị trường hay rủi ro tín dụng mà là loại RR mang tính hệ quả bởi lẽ ngoài các nguyên nhân mang tính đặc thù, RRTK còn có thể bắt nguồn và chuyển biến xấu dưới tác động của các rủi ro phi tài chính và rủi ro tài chính khác trong hoạt động của NH.
Rủi ro tín dụng một khi xảy ra sẽ dẫn đến sự trả nợ không đúng hạn, điều này cực kỳ nguy hiểm đối với NH vì chức năng trung gian tín dụng, một khi vai trò người cho vay gặp RR trong việc thu hồi nợ, thì vai trò người đi vay cũng ảnh hưởng và tất yếu sẽ dẫn đến RRTK. Nếu NH không quản trị rủi ro tín dụng tốt thì RRTK là điều khó có thể tránh khỏi. Rủi ro lãi suất vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của RRTK. Sự cạnh tranh lãi suất giữa các NH đặc biệt là các ngân hàng nhỏ lẻ là nguyên nhân gây ra sự căng thẳng trong TK của các ngân hàng, khi các khách hàng chạy theo lãi suất.
Một khi căng thẳng trong thanh khoản, các NH lại lần nữa dùng công cụ lãi suất để thu hút vốn nhằm giải quyết tình trạng thâm hụt TK và kết quả là TK đã căng thẳng lại càng căng thẳng hơn. Rủi ro về pháp lý là một trong những RR mà nhiều NH phải đối mặt với những khó khăn hoặc phá sản khi Nhà nước có những chính sách về thay đổi để ổn định kinh tế vĩ mô. Khi NHTW yêu cầu tăng vốn hoặc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của NH nếu không có chính sách điều chỉnh của ngân hàng kịp thời sẽ ảnh hưởng đến nguồn thanh khoản và RRTK sẽ xảy ra. Rủi ro danh tiếng có thể xem là RR mà yếu tố nhạy cảm rất quan trọng.
Rủi ro trong việc thông tin bên ngoài đặc biệt là sự “ thổi phồng” của các tác nhân bên ngoài NH sẽ gây ra RR danh tiếng cho NH. Một khi RR này xảy ra, khả năng rút vốn của khách hàng xảy ra trong một thời điểm là rất dễ xảy ra và tất yếu sẽ dẫn đến RRTK. Rủi ro trong hoạt động tại NH như rủi ro đạo đức, rủi ro tác nghiệp. sẽ trực tiếp gây ra rủi ro tín dụng hoặc rủi ro danh tiếng và gián tiếp gây RRTK như đã nêu trên.3 Mối quan hệ giữa thanh khoản và khả năng sinh lời 123doc 6 Giữa khả năng TK và khả năng sinh lời có sự đánh đổi.
NH càng tập trung nhiều vốn để sẵn sàng đáp ứng yêu cầu TK thì khả năng sinh lời dự tính của nó càng thấp (các yếu tố khác không đổi). Ngược lại, duy trì nguồn vốn đáp ứng TK thấp thì việc giải quyết các vấn đề đáp ứng yêu cầu TK luôn gắn với chi phí, bao gồm chi phí trả lãi vốn vay, chi phí giao dịch (về thời gian và tiền) cho việc tìm kiếm vốn TK và cả chi phí cơ hội tồn tại dưới hình thức những khoản thu nhập trong tương lai sẽ bị bỏ qua khi NH phải bán đi những TS sinh lời để đáp ứng yêu cầu TK. Rõ ràng, NH phải tính tới yếu tố chi phí cơ hội trong quá trình xem xét vấn đề TK của NH. Nếu tại một thời điểm nào đó, NH có thặng dư TK , nhà quản trị sẵn sàng đầu tư phần TK vượt trội, tránh phải trả chi phí cơ hội để vốn nhàn rỗi không tạo ra thu nhập.
Từ một quan điểm khác về lợi nhuận, chúng ta có thể thấy rằng quản trị TK của NH liên quan đến RR lãi suất trong đó NH không có đủ vốn TK để đáp ứng quy mô vấn cần thiết. Nếu lãi suất tăng, những TS tài chính mà NH dự định bán để tăng khả năng TK sẽ giảm giá trị và việc bán chúng sẽ tạo ra tổn thất cho NH. Điều này không chỉ làm giảm lượng vốn NHthu về từ việc bán TS mà nó còn làm giảm thu nhập của NH. NH sẽ phải chịu chi phí cao hơn khi tăng cường TK bằng việc vay vốn nếu LS tăng.
Hơn nữa có một số nguồn vay nợ mà không phải lúc nào NH cũng có thể tiếp cận được. Nếu như người cho vay thấy rằng NH hiện nay RR hơn trước, NH sẽ phải trả một LS cao hơn và thậm chí một số người cho vay sẽ từ chối cấp vốn TK cho NH.4 Ảnh hƣởng của cung và cầu thanh khoản đến rủi ro thanh khoản Cầu thanh khoản Cầu về TK là nhu cầu vốn cho các mục đích hoạt động của NH, các khoản làm giảm quỹ của NH. Thông thường, trong lĩnh vực KD của NH, những hoạt động tạo ra cầu về TK bao gồm: - Khách hàng rút tiền từ tài khoản. Thanh toán các khoản vay phi TG.
- Yêu cầu vay vốn từ những KH có chất lượng tín dụng cao. - Chi phí phát sinh khi KD các sản phẩm, dịch vụ. - Thanh toán cổ tức bằng tiền. Cung thanh khoản Cung TK là các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của NH, là nguồn cung cấp TK cho NH, bao gồm: 123doc 7 - Các khoản TG đang đến; Doanh thu từ việc bán các dịch vụ phi TG.
- Thu hồi các khoản TD đã cấp; Bán các TS đang KD và sử dụng. - Vay mượn trên thị trường tiền tệ.