CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG 1. 1 Các khái niệm chung về hiệu quả kinh doanh: Ngày nay, khi đề cập đến vấn đề hiệu quả thì người ta vẫn chưa có được một khái niệm thống nhất. Bởi vì ở mỗi một lĩnh vực khác nhau, em ét trên các góc độ khác nhau thì người ta có những cách nhìn nhận khác nhau về vấn đề hiệu quả. Như vậy, ở mỗi lĩnh vực khác nhau thì người ta có những khái niệm khác nhau về hiệu quả, và thông thường khi nói đến hiệu quả của một lĩnh vực nào đó thì người ta gắn ngay tên của lĩnh vực đó liền ngay sau hiệu quả.
Nói chung, hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế phản ánh những lợi ích đạt được từ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên cơ sở so sánh lợi ích thu được với chi phí bỏ ra trong suốt qúa trình kinh doanh.1 Hiệu quả kinh doanh của tổ chức kinh doanh Đối với các doanh nghiệp, hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp. Đánh giá hiệu quả kinh doanh chính là quá trình so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu về với mục đích đã được đặt ra và dựa trên cơ sở giải quyết các vấn đề cơ bản của nền kinh tế này: sản uất cái gì? sản uất như thế nào? và sản uất cho ai? Bản chất của hiệu quả kinh doanh là tỷ lệ giữa kết quả đầu ra so với chi phí đầu vào. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thường được đo bằng các chỉ tiêu cơ bản như: Lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận ROA, ROE,… và các chỉ tiêu trung gian khác.2 Hiệu quả kinh doanh của NHTM trong hoạt động ngân hàng TM Hoạt động của NHTM là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường uyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán cho khách hàng vì mục đích lợi nhuận. Vì vậy, hiệu quả kinh doanh là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của các NHTM.
Do đặc thù của hoạt động ngân hàng nên hiệu quả kinh doanh của NHTM có một số đặc điểm như sau: 12 z Một là, hiệu quả kinh doanh ngân hàng gắn với đặc thù của hoạt động ngân hàng - kinh doanh tiền tệ và cung cấp các dịch vụ ngân hàng. Đây là một lĩnh vực rất nhạy cảm, chịu tác động mạnh của nhiều yếu tố đặc biệt là các yếu tố chính trị, kinh tế, ã hội. Do vậy, kết quả hoạt động và hiệu quả kinh doanh ngân hàng phản ánh sự tác động tổng hợp các yếu tố đó. Chẳng hạn, bên cạnh các chỉ tiêu hiệu quả của ngân hàng như tỷ suất lợi nhuận, hiệu quả hoạt động ngân hàng còn thể hiện ở chổ góp phần thúc đ y tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, óa đói giảm nghèo… Hai là, hiệu quả kinh doanh của ngân hàng là hiệu quả của một ngành dịch vụ hiện đại với sự quay vòng vốn nhanh nên các chỉ tiêu về suất lợi nhuận/doanh số… có thể không cao như một số ngành sản uất.
Ba là, hiệu quả kinh doanh của ngân hàng gắn với hoạt động huy động và sử dụng vốn vay, vốn của người khác. Do vậy, đòi hỏi huy động và sử dụng vốn phải cao. Bốn là, hoạt động ngân hàng gắn với hoạt động của doanh nghiệp và dân cư. Do vậy, hiệu quả kinh doanh của ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào năng lực kinh doanh và hoạt động của các chủ thể này.
Chẳng hạn, nếu các doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả thì ngân hàng có thể tăng mức cho vay, hiệu quả kinh doanh cao hơn.2 Các hoạt động kinh doanh chính của Ng n hàng 1.1 Huy động vốn 1.1 Huy động vốn thông qua nghiệp vụ tiền gửi a) Tiền gửi không kì hạn Là loại tiền mà khách hàng gửi vào ngân hàng nhưng không có thỏa thuận về thời hạn rút tiền, khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào. Mục đích gửi tiền của khách hàng không phải vì lợi nhuận mà bởi tính an toàn và để sử dụng dịch vụ thanh toán của ngân hàng. Vì mục đích và tính chất bất ổn của loại tiền gửi này nên lãi suất của nó là rất thấp nhưng cũng vì thế mà ngân hàng phải dự trữ một tỉ lệ lớn hơn để đảm bảo thanh toán cho khách hàng bất cứ lúc nào. Tuy có nhiều bất lợi nhưng nếu biết tính toán tận dụng được 13 z nguồn vốn này thì sẽ là một lợi thế lớn đối với ngân hàng bởi chi phí hấp dẫn của nó.
b) Tiền gửi có kì hạn Đối với loại tiền gửi này, khách hàng và ngân hàng sẽ có thỏa thuận trước về thời hạn của khoản tiền gửi, vì thế ngân hàng có thể hoàn toàn chủ động trong việc sử dụng số tiền đó mà không phải dự trữ quá nhiều. Nhưng trái ngược với tiền gửi không kì hạn, nguồn vốn này khách hàng gửi chủ yếu với mục đích sinh lời và vì thế ngân hàng phải trả một mức lãi suất cao hơn để có được sự ổn định của nó. Trong loại tiền gửi có kì hạn, ngân hàng lại đưa ra rất nhiều kì hạn khác nhau từ ngắn hạn cho đến trung và dài hạn để cho khách hàng có thể lựa chọn một kì hạn phù hợp với thời gian nhàn rỗi của khoản tiền của mình nhất. c) Tiền gửi tiết kiệm Về cơ bản loại tiền khá giống với loại tiền gửi có kì hạn ở trên.
Đây là số tiền nhàn rỗi của dân cư gửi vào ngân hàng với mục đích để giành và sinh lời. Khi gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng, khách hàng sẽ được phát một cuốn sổ gọi là sổ tiết kiệm, trên đó ghi lại các giao dịch được thực hiện; khi tới giao dịch với ngân hàng, khách hàng phải mang theo cuốn sổ này. Ở Việt Nam, việc phân biệt tiền gửi có kì hạn và tiền gửi tiết kiệm được dựa vào đối tượng áp dụng, tuy nhiên điều này chưa hẳn đã hoàn toàn đúng. Tiền gửi có kì hạn được áp dụng với khách hàng là doanh nghiệp còn tiền gửi tiết kiệm lại thường được áp dụng với các khách hàng là cá nhân.
Hiện có các loại tiền gửi tiết kiện bao gồm: - Tiền gửi tiết kiệm không kì hạn Đặc điểm của loại tiền này khá giống với tiền gửi không kì hạn tuy nhiên cũng có những điểm khác nhau cơ bản đó là tiền gửi tiết kiệm không kì hạn sẽ không được hưởng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng nhưng lại thường có lãi suất cao hơn so với tiền gửi không kì hạn. - Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn 14 z Khác với nguồn huy động tiền gửi tiết kiệm không kì hạn, sản ph m tiết kiệm có kì hạn được thiết kế cho các đối tượng có nguồn thu nhập ổn định và có những kế hoạch sử dụng trong tương lai. Họ gửi tiền nhằm mục đích an toàn và sinh lợi vì thế mà lãi suất của loại tiền gửi tiết kiệm này sẽ cao hơn là của tiền gửi tiết kiệm không kì hạn. Đối tượng thường sử dụng sản ph m này thường là công nhân viên chức, hưu trí.2 Huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá Đây là một hình thức huy động vốn khá hiệu quả của các NHTM.
Trong quá trình hoạt động, có những lúc ngân hàng thấy có những cơ hội kinh doanh đầy hấp dẫn nhưng lại thiếu vốn. Điều đó có nghĩa là ngân hàng có trước kế hoạch kinh doanh rồi mới lên kế hoạch huy động vốn. Ngân hàng có thể ác định rõ quy mô huy động, loại tiền và ác định mức chi phí vốn hợp lý. Có một số hình thức của giấy tờ có giá bao gồm: a) Phát hành trái phiếu Trái phiếu thực chất là một giấy ác nhận nợ của ngân hàng đối với người sở hữu, trong đó ngân hàng cam kết sẽ hoàn trả lại vốn và lãi cho chủ nợ trong một thời hạn ghi trên trái phiếu và theo hình thức ác định trước.
Thường các NHTM phát hành trái phiếu nhằm mục đích huy động vốn trung và dài hạn. Kỳ hạn của trái phiếu thường là từ 1 đến 5 năm, thậm chí có thể dài hơn. Hiện trái phiếu của NHTM ở Việt Nam được coi là một loại trái phiếu có tình thanh khoản cao, lãi suất hấp dẫn. Vì thế, phát hành trái phiếu cũng được coi là một kênh huy động vốn trung và dài hạn ưa thích của mình.
b) Phát hành kì phiếu Kì phiếu ngân hàng có hình thức tương tự như trái phiếu ngân hàng chỉ có khác nhau về kì hạn. Kì phiếu thường có kì hạn dưới 1 năm. Mục đích của việc phát hành kì phiếu của ngân hàng là đề phục vụ cho những kế hoạch kinh doanh đã ác định như một dự án hay một chương trình kinh tế,… So với tiền gửi có kì hạn, kì phiếu có tính ổn định, tập trung hơn nhưng lãi suất cao hơn. Ngoài ra, kì phiếu cũng như trái phiếu được phép mua bán, chuyển nhượng, chiết khấu, nên cũng khá hấp dẫn khách hàng và ngân hàng có thể chủ động hơn trong việc huy động vốn.
c) Phát hành chứng chỉ tiền gửi 15 z Chứng chỉ tiền gửi có bản chất giống như một khoản tiền gửi có kì hạn, theo đó người sở hữu nó được hưởng các khoản lãi suất định kì trên cơ sở 60 ngày và được hoàn trả gốc khi đáo hạn. Điểm khác biệt lớn nhất giữa chúng là chứng chỉ tiền gửi được phép mua bán, chuyển nhượng trên thị trường. Vay Ngân hàng Nhà nước hoặc tổ chức tín dụng khác a) Vay Ngân hàng Nhà nước: Đây là khoản tiền vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách khi khả năng thanh khoản của NHTM bị báo động. NHNN thường cho vay dưới các hình thức là cho vay tái chiết khấu hoặc cho vay tái cấp vốn.
Thông thường, NHNN chỉ chiết khấu những thương phiếu có chất lượng tốt (thời gian đáo hạn ngắn, khả năng trả nợ cao) và phù hợp với mục tiêu theo đuổi của NHNN trong từng thời kì khác nhau. Nếu trường hợp NHTM không có thương phiếu để chiết khấu thì NHNN sẽ thực hiện cho vay tái cấp vốn theo hạn mức tín dụng nhất định. b) Vay các tổ chức tín dụng khác: Đây là nguồn huy động mà các ngân hàng thực hiện vay mượn lẫn nhau hoặc vay của các tổ chức tín dụng trên thị trường liên ngân hàng. Các ngân hàng có dư thừa dự trữ tạm thời sẽ tìm đến các ngân hàng đang thiếu hụt để cho, vay tìm kiếm lợi nhuận.