CHƯƠNG 1 NHŨNG VẤN ĐÈ c o BẢN VÈ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH 1. HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH 1. Lịch sử hình thành và phát triền của hoạt động cho thuê tài chính CTTC là một công cụ tài chính đã được sáng tạo ra từ rất sớm trong lịch sử văn minh nhân loại. Theo các nhà nghiên cứu thì các giao dịch CTTC đầu tiên đã xuất hiện trên 2000 năm trước công nguyên tại thành phố Sumerian cổ xưa dưới hình thức thuê mướn các công cụ sản xuất nông nghiệp, súc vật kéo, ruộng, đất, nhà cửa,.
Năm 1700 trước công nguyên, vua Hammurabi của Babylon đã kết hợp những quy định về cho thuê tài sản của người Sumerian và người Achaian đế soạn thảo ra bộ luật đầu tiên về cho thuê tài sản. Đầu thế kỷ XÍX, do sự phát triển của khoa học kỹ thuật và nền kinh tế hàng hoá, hoạt động CTTC đã có sự gia tăng đáng kể về số lượng và chủng loại thiết bị, tài sản cho thuê, trở thành công cụ tài chính được chấp nhận rộng rãi. Tuy vậy, hoạt động CTTC chỉ có nhũng bước phát triển nhảy vọt từ năm 1952 khi công ty CTTC tư nhân đầu tiên tên là Unitel States Leasing Corporation được thành lập tại Mỹ. Tiếp theo là công ty Leasing and Percantile Credit tại Anh.
Sau đó nghiệp vụ CTTC lan rộng khắp Tây Âu. Đên năm 1963 thì đặt chân đến Châu Á bằng việc ra đời công ty Orient Leasing tại Nhật Bản. Nguyên nhân chính thúc đấy các hoạt động c rrc có những bước phát triên mạnh mẽ, nhất là trong những năm gân đây là do nó là một hình thức tài trợ có tính an toàn cao, tiện lợi và hiệu quả đôi với các bên tham gia. Ngày nay CTTC đã trở nên phổ biến trong các hoạt động kinh tế quốc tế với sự tham gia của các tập đoàn tài chính lón cũng như các ngân hàng đa quôc gia.
Toe độ phát triển của CTTC liên tục tăng cao, trung bình khoảng 7%/ năm và đuợc mơ 4 rộng đến hầu khắp các nước trên thế giới. Doanh số của hoạt động CTTC trên toàn thế giới đạt trên 500 tỷ USD/ năm, chiếm 12,5% đầu tư tư nhân của thế giới, phân bổ theo các khu vực: Khu vực Bắc Mỹ (43%), khu vực Châu Âu (25%), khu vực Châu Á (25%), khu vực Nam Mỹ (5%), khu vực Châu úc và NewZealand (2%). Có thê nói, nghiệp vụ CTTC là một nghiệp vụ hiện đại của ngân hàng và các tô chức tài chính phi ngân hàng, đông thời nó trở thành loại tín dụng có hiệu quả, được các doanh nghiệp rất ưa chuộng, góp phần đáng kế vào việc thúc đẩy kinh tế phát triển, đặc biệt có ý nghĩa lớn đối với các nưóc đang phát triển. Khái niệm cho thuê tài chính - Khái niệm theo ủ y ban tiêu chuẩn Ke toán Quốc tế (IASC): Thuê mua tài chính( Financial lease) là một giao dịch t r o n ơ đó một bên (người cho thuê) chuyên giao quyên sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên kia (bên đi thuê) trong một khoảng thời gian nhất định, mà trong thời ơian đó, người cho thuê dự định thu hồi vốn tài trợ cùng các chi phí liên quan, quyền sở hũư tài sản có thê được chuyên giao hay không tùy thuộc vào sự thỏa thuận giũa hai bên.
•- Khái niệm CTTC ở Việt Nam: CTTC là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê mảy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sỏ’hợp đồng cho thuê giũa bên cho thuê với bên thuê. Bên cho thuê cam kết mua mảy móc, thiêt bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quvền sở hữu đổi với các tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn đã được hai bên thoa thuận. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lụa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thoả thuận trong họp đồng CTTC.
Tông sổ tiên thuê một loại tài sản qui định tại họp đông cho thuê tài chính, ít nhát phai tưong đương vón giá trị cua tài sản đó tại thời diêm ký họp đông. Ị1] 5 Theo khái niệm trên, CTTC áp dụng ở Việt Nam có một số giới hạn như: không áp dụng cho thuê đổi với bất động sản; người cho thuê là sở hữu chủ tài sản, như vậy không áp dụng phương thức thuê rồi cho thuê lại. CTTC khác hẳn với hình thức cho thuê tài sản đơn thuần hay hình thức bán hàng trả góp về hình thức sở hữu, tính chất, cũng như mối quan hệ giữa các bên tham gia. Trong CTTC, bên đi thuê chỉ có quyền sử dụng tài sản thuê, chứ không có quyền sớ hữu và định đoạt.
Trong suốt cả quá trình thuê, bên đi thuê không được hạch toán vào tài sản có của mình, mà chỉ được hạch toán vào tài khoản ngoại bảng và tất nhiên cũng không được sử dụng làm vật bảo đảm trong thế chấp. Khi sử dụng tài sản thuê, bên đi thuê phải trả một khoản tiền nhất định theo định kỳ (tháng, quí) đã được ghi trong hợp đồng. Khoản tiền này đủ để bù đắp khấu hao cơ bản, cộng với khoản lãi tương ứng với số vốn bỏ ra để mua sắm tài sản trên và những chi phí quản lý, lợi nhuận của bên cho thuê. M ối quan hệ cấu thành giao dịch cho thuê tài chính a, Bên cho thuê: là công ty CTTC có tư cách pháp nhân, người sẽ thanh toán toàn bộ giá trị mua bán tài sán theo thỏa thuận giữa người thuê với nhà sản xuất hay nhà cung ứng, là chủ sở hữu về mặt pháp lý của tài sản mà người thuê sử dụng.
b, Bên đi thuê: là doanh nghiệp hoặc cá nhân có nhu cầu vê tài sản. Khi được bên cho thuê chuyển giao tài sản thì bên đi thuê có quyền sử dụng tài sản, hưởng những lợi ích cũng như gánh chịu những rủi ro liên quan đên tài sản đó. Bên thuê có nghĩa vụ trả cho bên cho thuê những khoản tiên thuê và được quyền mua lại hoặc tiếp tục thuê lại tài sản theo thỏa thuận trong hợp đồng CTTC. 6 c, N h à sán xu ất/ CUMỊ ứng: l à n g ư ờ i c u n g c ấ p t à i s ả n t h e o t h o a t h u ậ n v ớ i n g ư ờ i th u ê v à t h e o c á c đ iề u k h o ả n tr o n g h ợ p đ ỏ n g m u a b á n th iẻ t bị đ ã k ý k ế t v ớ i n g ư ờ i c h o th u ê.
Đổi tượng cho thuê CTTC được thực hiện dưới hình thức tài san- thường là động sản, có thời gian sử dựng lâu dài, ít bị lạc hậu( máy móc, trang thiết bị, ô tô, tàu thuyền,. Tài sản cho thuê thuộc quyền sở hữu cua bên cho thuê, quyên sư dụnơ được chuyển giao cho bên đi thuê trong suốt thời gian thuê, thường bàng 7 tuôi thọ của tải sản. Hợp đồng cho thuê không được huỷ ngang. Như vậy, đổi tượng của CTTC chính là tài sản.
Thời hạn cho thuê tài chính: được chia thành ba phần: 1/ Thời hạn thuê cơ bản( Basic lease period): là thời hạn mà bên đi thuê trả những khoản tiền thuê cho bên cho thuê đế được quyền sử dụng tài sản. Đây là thời hạn mà tât cả các bên không được quyền huỷ ngang họp đồng nếu không có sự chấp thuận của bên kia. 2 / Thời hạn gia hạn tuỳ chọn( Optional renewal period): là thời hạn mà bên cho thuê cam kểt sẽ cho bên đi thuê tiếp tục thuê tài sản nếu bên đi thuê có nhu cầu sau khi kết thúc thời hạn cơ bản. 3/ Phần giá trị còn lại( Residual value share): tại thời điếm kết thúc hợp đồng, bên cho thuê thường uỷ quyền cho bên đi thuê làm đại lý bán tài sản.
Bên đi thuê được hưởng phần tiền bán tài sản lớn hơn so với giá mà bên cho thuê đưa ra, hoặc được khấu trừ vào tiền thuê hay được coi như một khoản hoa hồng bán hàng. Quy trình cho thuê tài chính Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ: Cán bộ thẩm định tiếp nhận hồ sơ đề nghị thuê tài chính cùng dự án, kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ, trình lãnh đạo. Bước 2: Thâm định cho thuê: Được sự đồng ý của lãnh đạo, căn cứ hồ sơ của khách hàng, tiến hành thẩm định khách hàng và dự án thuê. Nêu đủ điêu kiện thì cán bộ thâm định nêu đề xuất cụ thể trình lãnh đạo phê duyệt.
Neu không đủ điều kiện, không đồng ý cho thuê, công ty CTTC phải thông báo với khách hàng bằng văn bản. Bước 3: Ký kết và thực hiện hợp đồng: Sau khi được lãnh đạo phê duyệt, cán bộ thẩm định tiến hành lập hợp đồng CTTC. Khách hàng- bên đi thuê- thực hiện các biện pháp bảo đảm cho 8 hợp đông cho thuê như tham gia đặt cọc, ký cược, thế chấp, bảo lãnh,. Cán bộ thâm định trình ký hợp đông mua bán trên cơ sở thỏa thuận của bên đi thuê và nhà cung cấp( thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho nhà cung cấp), đồng thời ký kết hợp đồng bảo hiểm vật chất cho tài sản, thu phí và chuyển phí bảo hiểm cho công ty bảo hiểm.
Bước 4: Bàn giao tài sản cho bên đi thuê: Bên cung cấp tiến hành bàn giao tài sản cho bên thuê sử dụng, khai thác có chứng kiến của bên cho thuê. Bước 5: Thanh toán, kiêm tra, chuyển nhượng hợp đồng(nếu có): Sau khi tài sản đã được bàn giao cho bên đi thuê, nhiệm vụ của cán bộ cho thuê trong suốt thời gian này là theo dõi thu nợ, kiểm tra tài sản, kiểm tra sản xuất kinh doanh của bên đi thuê,. Đây là giai đoạn khó khăn và phức tạp nhât. Trong giai đoạn này, hàng loạt các vấn đề có thế nảy sinh, các rủi ro sẽ có khả năng xuất hiện.
Bước 6: Kết thúc họp đồng thuê: - Hợp đồng kết thúc đúng hạn: Khi bên đi thuê thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán tiền thuê, bên đi thuê có quyền ưu tiên thuê tiêp tài sản hoặc có quyền chọn mua tài sản với giá tượng trưng mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng. Bên thuê làm thủ tục chuyến quyền sở hữu cho bên đi thuê. - Hợp đồng kết thúc trước hạn: theo đề nghị của bên thuê, khi bên thuê thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán tiền thuê trước hạn thì thực hiện như trường họp trên.