CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ DỰ TRỮ NGOẠI HỐI NHÀ NƯỚC 1. DỰ TRỮ NGOẠI HỐI NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm Các quốc gia sử dụng DTNH và có thể có những định nghĩa riêng biệt về DTNH. Tuy nhiên, các định nghĩa đều căn bản dựa trên định nghĩa của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF).
IMF định nghĩa về dự trữ ngoại hối như sau: “Dự trữ ngoại hối của một quốc gia là những tài sản ngoại hối mà Ngân hàng Trung ương quản lý và sử dụng nhằm tài trợ trực tiếp cho thâm hụt cán cân thanh toán hoặc gián tiếp thông qua can thiệp tỷ giá và tài trợ cho một số nhu cầu khác. Dự trữ ngoại hối bao gồm các loại tài sản ngoại hối sau: Ngoại tệ, Vàng tiền tệ, Quyền rút vốn đặc biệt (SDR), Hạn mức dự trữ tại IMF và các tài sản ngoại hối khác” [14] - Ngoại tệ: tồn tại dưới dạng tiền mặt, tiền ghi sổ, các loại giấy tờ có giá và thể hiện giá trị bằng tiền tệ nước ngoài. - Vàng tiền tệ: thuộc sở hữu quốc gia, do cơ quan chức trách năm giữ và được sử dụng như một tài sản tài chính - Quyền rút vốn đặc biệt: là đơn vị tiền tệ quy ước của IMF, là đồng tiền ghi sổ và không tồn tại dưới dạng vật lý. Quyền rút vốn đặc biệt là dự trữ ngoại hối tại IMF được tạo ra nhằm bổ sung cho dự trữ ngoại hối của các nước thành viên IMF.
Quyền rút vốn đặc biệt được phân bổ dựa trên hạn mức (quota) của các nước thành viên. - Hạn mức dự trữ tại IMF: gồm (1) tổng số các khoản tiền (bằng SDR và ngoại tệ) mà một nước thành viên có thể giải ngân từ IMF bằng một thông báo ngắn và không kèm điều kiện và (2) các khoản nợ của IMF sẵn sàng dành cho các nước thành viên trong Thỏa thuận chung về vay nợ (GAB) và các Thoả thuận cho vay mới (NAB). Nguồn hình thành Với khái niệm về Dự trữ ngoại hối nêu trên, Dự trữ ngoại hối của một quốc gia được hình thành từ các nguồn sau: - Nguồn thu ngoại tệ từ các hoạt động xuất khẩu của quốc gia; 5 - Từ luồng ngoại tệ di chuyển vào trong nước dưới dạng kiều hối, đầu tư của nước ngoài; - Từ nguồn ngoại tệ, vàng mua được trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế; -Từ nguồn vay nợ, viên trợ của nuớc ngoài dưới các hình thức tài sản ngoại hối; - Từ nguồn ngoại tệ giải ngân cho các dự án trong nước được nước ngoài tài trợ; - Từ việc nhận phân bổ SDR của IMF theo hạn mức đóng góp của quốc gia vào IMF; - Từ việc rút dự trữ ngoại hối tại IMF theo hạn mức. Tuy nhiên, không phải toàn bộ các luồng ngoại hối chảy vào trong nước, đều được tập trung thành DTNHNN.
Một phần ngoại hối không nhỏ trong số đó, chủ yếu là từ các hoạt động xuất khẩu, từ kiều hối, đầu tư nước ngoài, được lưu hành trong các tầng lớp dân cư hoặc trôi nổi trên thị trường. Vì thế các biện pháp nhằm thu hút lượng ngoại hối trôi nổi tập trung về DTNHNN có vai trò hết sức quan trọng trong việc góp phần gia tăng quy mô dự trữ ngoại hối cho đất nước. Vai trò Dự trữ ngoại hối của một quốc gia được quản lý nhằm đáp ứng các mục tiêu sau đây: - Thứ nhất, Dự trữ ngoại hối là phương tiện để NHTƯ hỗ trợ và duy trì lòng tin đối với chính sách tỷ giá và chính sách tiền tệ. + NHTƯ sử dụng dự trữ ngoại hối để can thiệp thị trường ngoại hối nhằm thực hiện chính sách tỷ giá trong cơ chế tỷ giá cố định.
NHTƯ sử dụng dự trữ ngoại hối để can thiệp thị trường thông qua các giao dịch mua bán ngoại tệ với các tổ chức tín dụng trong nước. Trên thị trường ngoại hối trong nước, khi cầu lớn hơn cung, NHTƯ bán ngoại tệ ra và ngược lại, mua ngoại tệ vào khi cung lớn hơn cầu. Các giao dịch can thiệp này làm thay đổi lại cung cầu ngoại tệ trong nước và do vậy có khả năng điều chỉnh tỷ giá thị trường. Đối với các nước áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn, vai trò của dự trữ ngoại hối trong việc thực hiện chính sách tỷ giá hết sức mờ nhạt, bởi lẽ NHTƯ không can thiệp vào sự hình thành tỷ giá.
Ở đó, tỷ giá được thiết lập hoàn toàn do quan hệ cung cầu, không có sự can thiệp của nhà nước. Tuy nhiên, trên thực tế, rất ít nước áp dụng chế độ tỷ giá này. Đa phần, các nước áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi có sự điều tiết của nhà nước. Đối với các nước này, tỷ giá vẫn được hình thành chủ yêu theo quan hệ cung 6 cầu, tuy nhiên, để ngăn chặn các xu hướng tỷ giá giao động bất lợi cho các hoạt động kinh tế quốc tế, các hoạt động thương mại của quốc gia, NHTƯ vẫn thực hiện can thiệp bằng các hoạt động mua bán ngoại hối để điều tiết tỷ giá, chỉ cho phép tỷ giá thị trường giao động trong một phạm vi nhất định.
Như vậy, bằng việc sử dụng dự trữ ngoại hối để can thiệp thị trường, NHTƯ đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, giảm thiểu rủi ro về biến động tỷ giá cho các hoạt động kinh tế quốc tế, duy trì lòng tin của công chúng đối với việc thực thi chính sách tỷ giá. Vai trò của dự trữ ngoại hối ở đây đã được thể hiện rất rõ nét. Ở các nước áp dụng chế độ tỷ giá cố định, vai trò của dự trữ ngoại hối đối với chính sách tỷ giá càng có ý nghĩa to lớn. Do quan hệ cung cầu trên thị trường luôn thay đổi, tạo ra sự chênh lệch giữa tỷ giá cố định (tỷ giá trung tâm) với tỷ giá thị trường.
Để duy trì tỷ giá cố định, NHTƯ thường xuyên phải can thiệp thị trường. Chênh lệch càng lớn, NHTƯ càng phải chống đỡ, can thiệp càng nhiều. Do vậy, khi độ lệch trở nên gay gắt, NHTƯ buộc phải thay đổi tỷ giá trung tâm để hạn chế việc can thiệp. Đặc biệt, trong trường hợp tỷ giá trung tâm thấp hơn tỷ giá thị trường, việc NHTƯ điều chỉnh tỷ giá trung tâm lên bằng với tỷ giá thị trường, hay phá giá nội tệ nhằm hạn chế sự suy giảm mạnh dự trữ ngoại hối đã khiến cho lạm phát gia tăng.
Lạm phát làm xói mòn sức mạnh của đồng nội tệ, trực tiếp ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của đại bộ phận người lao động, làm giảm lòng tin của công chúng vào Chính phủ. Từ đó, đòi hỏi các NHTƯ phải duy trì dự trữ ngoại hối đủ mạnh để ngăn ngừa các cuộc phá giá có thể xảy ra. + NHTƯ sử dụng dự trữ ngoại hối để can thiệp thị trường ngoại hối nhằm thực hiện chính sách tiền tệ. Khi tiến hành giao dịch trên thị trường ngoại hối, NHTƯ không những tác động điều chỉnh tỷ giá mà nó còn làm thay đổi lượng tiền cơ sở, vì thế mà ảnh hưởng đến mục tiêu chính sách tiền tệ tại thời điểm đó.
Khi NHTƯ tiến hành can thiệp mua nội tệ vào, bán ngọai tệ ra sẽ làm giảm lượng tiền cơ sỏ và ngược lại, khi NHTƯ bán nội tệ ra và mua ngoại tệ vào, lượng tiền cơ sở sẽ tăng lên. Đối với các quốc gia có chế độ tỷ giá thả nổi, NHTƯ không có nghĩa vụ can thiệp lên tỷ giá, nhưng vai trò điều tiết lượng tiền cơ sở được thể hiện một cách rõ nét. Khi đó NHTƯ can thiệp trên thị trường ngoại hối nhằm điều chỉnh lượng tiền cơ sở chứ không nhằm điều chỉnh tỷ giá. Do đó, giao dịch trên thị trường ngoại hối cũng trở 7 thành một kênh phát hành tiền quan trọng của NHTƯ.
Do cơ chế tác động như vậy, hoạt động can thiệp ngoại hối trên thị trường trong nước của NHTƯ phải được thực hiện một cách cẩn trọng trên cơ sở xem xét giữa mục tiêu điều chỉnh lượng tiền cơ sở và mục tiêu điều chỉnh tỷ giá. Có 02 hình thức can thiệp của NHTƯ trên thị trường ngoại hối là can thiệp không trung hòa (unsterilized intervention) và can thiệp trung hòa (sterilized intervention). Can thiệp không trung hoà là hình thức NHTƯ can thiệp vào thị trường ngoại hối mà không điều chỉnh lại sự thay đổi trong mức cung tiền sau khi có can thiệp. Chẳng hạn, nếu NHTƯ muốn hạ giá nội tệ thông qua việc mua ngoại tệ vào và bán nội tệ ra.
Bằng cách này lượng cung nội tệ trong nền kinh tế gia tăng, và trong điều kiện các yếu tố khác không đổi sẽ làm gia tăng lạm phát. Do đó, sự can thiệp trên thị trường ngoại hối theo hình thức này không chỉ làm tăng, giảm tỷ giá mà còn ảnh hưởng đến lạm phát và lãi suất. Can thiệp theo hình thức này là một trong những cách thức để thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ. Can thiệp trung hoà là trường hợp NHTƯ can thiệp vào thị trường ngoại hối trong khi vẫn duy trì mức cung tiền tệ bằng cách đồng thời với việc can thiệp áp dụng cả các hoạt động thị trường mở.
Chẳng hạn, song song với việc mua ngoại tệ vào và bán nội tệ ra để ổn định tỷ giá, NHTƯ sẽ sẽ tiến hành bán chứng khoán thông qua nghiệp vụ thị trường mở để thu hút lại lượng tiền cơ sở về ngân hàng. Can thiệp theo hình thức này sẽ ít ảnh hưởng tới mục tiêu chính sách tiền tệ. - Thứ hai, Dự trữ ngoại hối là phương tiện để hạn chế các tác động tiêu cực khi xảy ra khủng hoảng bằng việc duy trì khả năng thanh khoản ngoại hối. Khi khủng hoảng xảy ra, theo tâm lý chung, để đảm bảo an toàn, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ ồ ạt rút vốn khỏi nơi đầu tư.
Khi đó, DTNH sẽ là trợ lực đảm bảo khả năng thanh khoản cho đất nước, hạn chế rủi ro khủng hoảng tài chính do nguy cơ mất khả năng thanh toán cho các nhà đầu tư nước ngoài. - Thứ ba, Dự trữ ngoại hối biểu thị khả năng hỗ trợ đồng nội tệ bằng tài sản dự trữ. Dự trữ ngoại hối là phương tiện được NHTƯ sử dụng để thực hiện mục tiêu chính sách tỷ giá và chính sách tiền tệ, qua đó góp phần ổn định giá trị đồng nội tệ. Khi đồng nội tệ xuống giá mạnh, NHTƯ thực hiện bán ngoại tệ ra và thu đồng nội tệ về, làm giảm mức độ xuống giá của đồng tiền nội tệ.
Với mức dự trữ ngoại hối đủ lớn, NHTƯ có thể can thiệp thị trường để ổn định giá trị đồng nội tệ trong mọi trường 8 hợp.