Chương I: Lý luận chung về nghiệp vụ chiết khẩu bộ chứng từ hàng xuất ễễ——_—_——=== '———————————ễễễễễễễễễ > Các đặc điểm chi yéu cia Forfaiting: 1. Chuyên hóa khoản phải thu xuất khẩu trả chậm thành trả ngay, cải thiện khả năng thanh khoản và luồng tiền mặt cho nhà xuất khẩu. Nhà xuất khẩu tránh được rủi ro quốc gia và rủi ro thị trường liên quan đến các khoản phải thu xuất khẩu. Nhà xuất khẩu được tài trợ đến 100% giá trị xuất khâu, lớn hơn nhiều so với hình thức tài trợ thông thường (75-80%).
Khoản tài trợ forfaiting không thể là một khoản nợ trên bảng cân đối của nhà xuất khâu, do đó không làm xấu đi các chỉ tiêu tài chính. Do lãi suất áp dụng là cố định và được thanh toán ngay nên loại trừ được rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá. Nhà xuất khẩu được giải phóng khỏi công việc quản lý tín dụng và giảm được chỉ phí bảo hiểm tín dụng xuất khẩu. Giúp nhà xuất khẩu mở rộng được tín dụng xuất khẩu trung và dài hạn, tăng được thị phần bán hàng.4 Nghiệp vụ chiết khấu bộ chứng từ hàng hóa xuất khẩu Quan hệ tín dụng thương mại trong nền kinh tế đã cho ra đời các thương phiếu là các phiếu nợ phát sinh từ việc mua bán trả chậm hay tượng trưng cho quyền sở hữu trên một số hàng ký gởi.
Theo dòng lịch sử, thương phiếu dần dan được pháp chế hóa và trở thành một công cụ tài chính phổ biến, mang tính thống nhất và thâm nhập vào hệ thống ngân hàng. Nói đến thương phiếu thì không thể nào không nói đến nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu, một loại hình tín dụng tài trợ cho hoạt động thương mại nội địa. Ngày nay, với sự phát triển của thương mại quốc tế, nghiệp vụ chiết khấu không chỉ dừng lại ở chiết khấu thương phiếu đơn thuần nữa mà đã phát triển lên một mức cao hơn, từ đó hình thành nghiệp vụ chiết khấu bộ chứng từ hàng hóa xuất khẩu. Vì vậy, sau đây người viết xin trình bày một số vấn đề cơ bản về nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu đơn thuần, từ đó làm cơ sở để đi sâu vào tìm hiểu chỉ tiết về nghiệp vụ chiết khấu bộ chứng từ hàng hóa xuất khẩu.
* Khái quát về nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu don thuan > Khái niệm: theo “Quy chế chiết khẩu, tái chiết khẩu công cu chuyển nhượng của tổ chức tin dụng đối với khách hàng” do Ngân hàng Nhà nước ban Fn_______ Trang 12 vu chiết khẩu bô chứng từ hàng xuât hành năm 2006 thì: “Chiết khấu công cụ chuyền nhượng (trong đó có thương phiếu là hối phiếu và lệnh phiếu) là việc tổ chức tín dụng mua thương phiếu từ người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán với các phương thức: (1) Chiết khấu toàn bộ thời hạn còn lại của thương phiếu hoặc (2) Chiết khấu có thời hạn”. Hay nói cách khác, khách hàng sẽ chuyển nhượng quyền sở hữu thương phiếu chưa đến hạn thanh toán của mình cho tổ chức tín dụng để nhận một khoản tiền thấp hơn mệnh giá của thương phiếu. Số tiền chênh lệch giữa mệnh giá thương phiếu so với số tiền khách hàng nhận được gọi là lãi chiết khẩu và phí hoa hồng. Đặc điểm của nghiệp vụ tín dụng này là khoản lãi phải trả ngay khi nhận vốn.
Do đó, khoản lợi tức này sẽ được khấu trừ vào mệnh giá ngay tại thời điểm chiết khấu. Như vậy, nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu đơn thuần được thực hiện dựa trên cơ sở là thương phiếu (gồm chứng từ đòi nợ - hối phiếu hay chứng từ nhận nợ - lệnh phiếu) được lập từ quan hệ mua bán giữa hai bên. “Đơn thuần” ở đây được hiểu là thương phiếu được chiết khấu mà không cần phải có chứng từ liên quan đến giao dịch cơ sở kèm theo. Do đó, để được chiết khấu, khách hàng cân phải thông qua quá trình thẩm định của tổ chức tín dụng về các yếu tố như năng lực tài chính, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, uy tín., đặc biệt là thâm định về tính chất pháp lý của thương phiếu tức là nội dung, hình thức và khả năng nhận được thanh toán của thương phiếu đó.
Nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu đơn thuần chủ yếu được hình thành trên cơ sở quan hệ thương mại nội địa bởi đây thực chất là một hình thức cấp tín dụng ngắn hạn mà các tổ chức tín dụng cung cấp cho khách hàng và chỉ dựa trên cơ sở là thương phiếu, nên việc các doanh nghiệp tham gia mua bán đều là những chủ thể kinh tế hoạt động trong nước sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tín dụng tiễn hành thấm định tài chính, kết quả kinh doanh của họ cũng như năng lực hoạt động và thiện chí thanh toán của người mua. Khi ngân hàng chiết khấu thương phiếu thì người thanh toán thương phiếu mới chính là đối tượng chủ yếu mà ngân hàng quan tâm khi cấp tín dụng, mặc dù chính chủ nợ, hay người thụ hưởng mới là người mang thương phiếu đi chiết khâu. Cho nên nếu người thanh toán là công ty lớn, hoạt động hiệu quả thì sẽ dễ dàng được ngân hàng chấp nhận chiết khấu.--sr-s=-srs-syỶ-. Trang 13 Chương I: Lý luận chung về nghiệp vụ chiết khẩu bộ chứng từ hàn xuất Bên cạnh việc thực hiện chiết khấu cho khách hàng, các tổ chức tín dụng còn có thể mang thương phiếu đã chiết khấu đi tái chiết khấu với Ngân hàng Nhà nước để tăng tính thanh khoản cho thương phiếu.
> Quy trình chiết khẩu thương phiếu chung của các tổ chức tín dụng: Tổ chức tín dụng thực hiện chiêt khâu lên (Sb)⁄ (4) (3) (5a) x: 2 2 ¬ ath Người thụ hưởng <z (2) = Nguoi tra tien a (1) — — So dé 1.1: Quy trình chiết khẩu thương phiếu đơn thuân Giải thích sơ đồ: (1) Hai bén mua ban tién hanh ky két hop đồng ngoại thương. (2) Người bán căn cứ vào hợp đồng tiến hành giao hàng hóa cho người mua, đồng thời ký phát hối phiếu đòi nợ người mua hoặc người mua lập lệnh phiếu nhận nợ người bán. (3) Người bán mang thương phiếu đến tô chức tín dụng để được chiết khấu. Sau khi thẩm định, nếu tô chức tín dụng thực hiện chiết khấu thì chuyển sang bước (4), nếu thấy chiết khấu không khả thi thì từ chối chiết khẩu cho khách hàng.
(4) Tổ chức tín dụng giải ngân số tiền chiết khấu cho khách hàng dưới hình thức chiết khấu có thời hạn hoặc mua đứt thương phiếu trên. (5a) Với hình thức mua đứt thương phiếu, khi tới hạn thanh toán của thương đối phiếu, tô chức tín dụng sẽ xuất trình thương phiếu đó để yêu cầu thanh toán với người mua. (5b) Với hình thức chiết khâu có thời hạn, khi đến hạn thanh toán hối phiếu thì lại khách hàng đã được tổ chức tín dụng chiết khấu trước đây phải tiến hành mua thương phiếu trên từ tô chức tín dụng. Trang 14 về nghiệp vu chiết khẩu bộ chứng từ hàng xuât Lưu ý: Nếu ở bước (5b), khi hết thời hạn chiết khấu mà người thụ hưởng (khách hàng được chiết khấu) không thực hiện việc mua lại thương phiếu, thì tổ chức tín dụng có quyền xuất trình thương phiếu đó để được thanh toán theo quy định của luật pháp mỗi nước, ở Việt Nam là Ludt cdc cong cu chuyển nhượng ban hành năm 2005.
> Lợi ích của chiết khẩu thương phiếu: Đối với người sở hữu thượng phiếu: Giúp cho họ có tiền để đáp ứng nhu o_ cầu thanh toán, biến các thương phiếu chưa đến hạn thanh toán trở thành các phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp sẽ sẵn lòng bán chịu hơn, từ đó gia tăng quan hệ tín dụng thương mại giữa các doanh nghiệp. Đối với ngân hàng: Chiết khâu thương phiếu là nghiệp vụ tín dụng có o_ đảm bảo là các tài sản có tính thanh khoản cao. Vì vậy, nghiệp vụ này vừa sinh lời cho ngân hàng vừa tạo ra một lực lượng dự trữ để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thanh toán.
Tóm lại, nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu đơn thuần là một hình thức cấp tín dụng khá đơn giản, an toàn và được hình thành chủ yếu trên cơ sở giao dịch thương mại nội địa. Tuy nhiên, khi thương mại quốc tế hình thành thì quan hệ mua bán của các doanh nghiệp không còn gói gọn trong nội bộ của một quốc gia nữa mà đã lan rộng trên quy mô toàn thế giới. Điều này chứa đựng nhiều rủi ro cho các nhà xuất nhập khẩu như: rủi ro về khoảng cách địa lý, rủi ro về bất đồng ngôn ngữ hay rủi ro về sự khác biệt kinh tế, chính trị, luật pháp. Chính vì vậy, một ngân hàng sẽ khó chấp nhận chiết khấu cho nhà xuất khẩu chỉ dựa trên hối phiếu như chiết khẩu thương phiếu thông thường được, bởi khi đó rủi ro về phía ngân hàng sẽ rất cao do không thê kiểm soát được hàng hóa.
Do đó, bên cạnh chứng từ tài chính (hối phiếu, lệnh phiếu) thì phải có chứng từ thương mại với chức năng SỞ hữu hàng hóa để ràng buộc nghĩa vụ thanh toán của phía nước ngoài. Trên cơ sở đó, hình thành nghiệp vụ chiết khấu bộ chứng từ hàng hóa xuất khâu.1 Khái niệm nghiệp vụ chiết khấu bộ chứng từ hàng hóa xuất khẩu Trước tiên ta cần hiểu bộ chứng từ hàng hóa xuất khẩu là gì? Như đã nói ở trên, bộ chứng từ hàng hóa xuất khẩu bao gồm chứng từ tài chính (hối phiếu và lệnh —== ——-Ƒ—— Trang 15 Chương I: Lý luận chung về nghiệp vụ chiết khẩu bộ chứng từ hàng xuất i phiếu) làm chức năng đòi tiền và chứng từ thương mại (hóa đơn thương mại, vận đơn, phiếu đóng gói.) làm chức năng sở hữu hàng hóa - là một trong những cơ Sở quan trọng để ngân hàng tiến hành công tác thâm định chiết khâu cho khách hàng là các doanh nghiệp xuất khẩu. Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động ngoại thương thì lệnh phiếu ít được sử dụng hơn hối phiếu vì lệnh phiếu có tính thanh khoản thấp và khó lưu thông nên kể từ đây, người viết xin giả định rằng từ ngữ “chứng từ tài chính” được sử dụng trong khóa luận chỉ đề cập đến hối phiếu. Theo UCP 600 (Điều 2) thì thuật ngữ chiết khâu (Negotiation) được định nghĩa như sau: “Negofiation means the purchase by the nominated bank of drafts (drawn on a bank other than the nominated bank) and/or documents, by either advancing or agreeing to advance funds to the beneficiary on or before the banking day on which reimbursement is due to the nominated bank”.