CHƯƠNG 1: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ DỰ TRỮ NGOẠI HỐI NHÀ NƯỚC 1.1 Khái niệm, thành phần và vai trò của Dự trữ Ngoại hối Nhà nước 1.1- Khái niệm Theo tài liệu “Cẩm nang cán cân thanh toán quốc tế” của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) xuất bản lần thứ 5, tổng kết kinh nghiệm về quản lý DTNHNN nước của các nước, DTNHNN được hiểu như sau: Dự trữ ngoại hối của một quốc gia là những tài sản ngoại hối mà Ngân hàng Trung ương quản lý và sử dụng, nhằm tài trợ trực tiếp cho thâm hụt cán cân thanh toán hoặc gián tiếp thông qua can thiệp tỷ giá và tài trợ cho một số nhu cầu khác.1- Ngoại tệ Là tất cả các loại đồng tiền của nước ngoài có trong cơ cấu các loại đồng tiền được sử dụng trong DTNHNN dưới dạng tiền mặt, tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, ủy thác đầu tư hay các loại giấy tờ có giá.2- Vàng tiền tệ Là loại vàng có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt khi cần thiết hoặc có thể đầu tư sinh lời thông qua hình thức gửi tại các đối tác đủ tiêu chuẩn theo qui định hiện hành 1.3 - Quyền rút vốn đặc biệt (SDR) Là đơn vị tiền tệ qui ước của một số nước thành viên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). SDR ra đời cung cấp cho các quốc gia thành viên một nguồn lực bổ sung để có thể duy trì tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ. Tuy nhiên, nó chỉ là đơn vị qui ước nên chỉ được sử dụng để tính toán chứ không thực sự tồn tại trong lưu thông, do vậy người ta không thể mua bán nó như các loại ngoại tệ khác. Các thành viên của IMF khi có nhu cầu mua/bán đồng SDR phải liên hệ với IMF để thực hiện giao dịch.4- Hạn mức dự trữ tại IMF 3 Là tổng số các khoản tiền, có thể bằng SDR và ngoại tệ khác, mà một nước thành viên có thể giải ngân từ IMF bằng một thông báo ngắn, không kèm điều kiện gì và các khoản nợ của IMF sẵn sàng dành cho các nước thành viên trong thỏa thuận chung về vay nợ và các thỏa thuận cho vay mớ.5- Các tài sản ngoại hối khác Là những tài sản ngoại hối khác, ngoài các loại tài sản trình bày trên.3- Vai trò DTNHNN do Ngân hàng Trung ương quản lý và kiểm soát để có thể sẵn sàng can thiệp thị trường ngoại hối trong nước nhằm ổn định tỷ giá đồng nội tệ, thực hiện chính sách tiền tệ và đảm bảo khả năng thanh toán quốc tế của nước đó.
Do vậy, DTNHNN có vai trò sau: 1.1- Ổn định giá trị đồng nội tệ Đối với các nước áp dụng chế độ tỷ giá cố định, qui mô của DTNHNN là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả của chính sách tỷ giá. Điều đó có nghĩa là, nếu qui mô DTNHNN đủ lớn thì Ngân hàng trung ương sẵn sàng bán ngoại tệ can thiệp khi cầu lớn hơn cung trên thị trường ngoại hối và ngược lại, mua ngoại tệ khi cung lớn hơn cầu mà không phải sử dụng các biện pháp hành chính khi điều hành chính sách tỷ giá. Từ đó, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và các ngân hàng thương mại giảm thiểu được rủi ro về sự biến động của tỷ giá và duy trì lòng tin của công chúng đối với việc thực thi chính sách tỷ giá cũng như hạn chế được những tác động từ bên ngoài khi xảy ra khủng hoảng thông qua việc đảm bảo khả năng thanh khoản ngoại hối. Đối với các nước áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi tự do, qui mô của DTNHNN không ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá, bởi vì tỷ giá tăng giảm hoàn toàn theo quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường.
Trên thực tế, rất ít nước áp dụng chế độ tỷ giá này mà thường áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi có sự điều tiết của nhà nước. Khi đó, tỷ giá được xác định trên cơ sở cung cầu ngoại tệ. Nhà nước, cụ thể là NHTW, thực hiện bán ngoại tệ khi cầu lớn hơn cung và ngược lại, mua ngoại tệ vào khi cung lớn hơn cầu. Vì 4 vậy, cần phải có một qui mô DTNHNN hợp lý để vừa đảm bảo ổn định giá trị đồng nội tệ vừa đảm bảo được nguyên tắc sinh lời trong quản lý DTNH.2- Đảm bảo khả năng thanh toán quốc tế của quốc gia Khả năng thanh toán quốc tế của quốc gia là khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán các nghĩa vụ nợ nước ngoài, nhu cầu chi ngoại hối đột xuất của Chính phủ tại một thời điểm nào đó.
Việc đáp ứng được nhu cầu thanh toán quốc tế có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với một quốc gia, nó không những ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế mà còn thể hiện uy tín của quốc gia đó trên trường quốc tế.3- Góp phần quan trọng vào sự thành công của CSTT và CSTG Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách quản lý kinh tế vĩ mô mà trong đó Ngân hàng trung ương thông qua các công cụ của mình làm thay đổi các điều kiện tiền tệ của nền kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu về giá cả, sản lượng và công ăn việc làm, thỏa mãn các yêu cầu trước mắt cũng như lâu dài của nền kinh tế. Tùy theo điều kiện của nền kinh tế mà Ngân hàng trung ương quyết định điều hành Chính sách tiền tệ theo hướng nới lỏng hay thắt chặt. Chính sách tiền tệ nới lỏng thường được sử dụng trong trường hợp nền kinh tế suy giảm do ảnh hưởng từ phía tổng cầu và được thực hiện bằng cách mở rộng khối lượng tiền cung ứng, hạ lãi suất hoặc tăng tỷ giá. Sự nới lỏng Chính sách tiền tệ cũng có thể được sử dụng khi lý do dẫn đến suy giảm kinh tế xuất phát từ phía tổng cung.
Khi đó, sẽ làm giảm bớt gánh nặng nghĩa vụ nợ cho các chủ thể kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phục hồi kinh tế. Thực hiện Chính sách tiền tệ thắt chặt thông qua việc tăng lãi suất, giảm khối lượng tiền cung ứng, giảm tỷ giá từ đó mà hạn chế sự phát triển quá nóng của nền kinh tế, ngăn chặn nguy cơ lạm phát. Vai trò của DTNHNN đối với chính sách tỷ giá như thế nào phụ thuộc lớn vào chế độ tỷ giá của quốc gia đó. Nếu quốc gia áp dụng chế độ tỷ giá cố định hoặc chế độ linh hoạt có sự điều tiết của Nhà nước thì lượng DTNH 5 cần thiết để can thiệp thị trường ngọai hối sẽ cao hơn rất nhiều so với các nước áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn, tỷ giá được hình thành theo quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường.2 Chất lượng quản lý Dự trữ Ngoại hối 1.1- Quản lý Dự trữ Ngoại hối 1.1- Khái niệm Quản lý DTNHNN là một quá trình thực hiện, nhằm đảm bảo những tài sản ngoại hối của khu vực công, được kiểm soát bởi cơ quan quản lý tiền tệ, sẵn sàng sử dụng để đáp ứng các mục tiêu đã xác định trước.
Quản lý DTNHNN trước hết là phục vụ Chính sách tiền tệ và Chính sách tỷ giá với mục đích ổn định giá trị đồng nội tệ và tăng trưởng kinh tế thông qua các hoạt động can thiệp thị trường ngoại hối của NHTW.2- Nguyên tắc Theo thông lệ quốc tế, đa số các NHTW khi quản lý Dự trữ Ngoại hối thường tuân thủ các nguyên tắc sau: * Nguyên tắc an toàn dự trữ Nguyên tắc này được hiểu là, toàn bộ khối lượng DTNHNN được đầu tư vào các công cụ do các tổ chức có xếp hạng tín nhiệm cao cung cấp. Xếp hạng tín nhiệm của các tổ chức do các công ty đánh giá, xếp hạng có uy tín trên thị trường như Standard & Poor’s, Moody và Fitch cung cấp. * Nguyên tắc bảo toàn dự trữ Là đảm bảo duy trì giá trị dự trữ ngoại hối ban đầu tính theo nguyên tệ và phần lợi nhuận tăng thêm từ các hình thức đầu tư trong quá trình quản lý (có loại trừ ảnh hưởng của lạm phát) trong một khoảng thời gian nhất định. Điều này có nghĩa là đảm bảo tăng trưởng vốn.
* Nguyên tắc hiệu quả Là mức độ thực hiện được các nguyên tắc trong quản lý dự trữ ngoại hối trên cơ sở tuân thủ các qui định đề ra, nhằm đáp ứng các mục tiêu sử dụng dự trữ ngoại hối của quốc gia. 6 * Nguyên tắc đảm bảo tính thanh khoản Tính thanh khoản của DTNHNN là khả năng chuyển đổi tài sản ngoại hối dưới các hình thức đầu tư khác nhau thành ngoại tệ dưới dạng tiền mặt, tiền trên tài khoản thanh toán để thực hiện thanh toán các nghĩa vụ nợ và nhu cầu chi tiêu khác của Chính phủ. Tùy theo điều kiện, hoàn cảnh, mục tiêu của từng nước mà Ngân hàng trung ương hoặc cơ quan tiền tệ các nước có chính sách và đặt ra thứ tự ưu tiên các nguyên tắc cho phù hợp với điều kiện của nước mình.3- Biện pháp quản lý DTNHNN Ngân hàng trung ương là cơ quan quản lý tiền tệ có nhiệm vụ quản lý DTNHNN. Để đảm bảo đạt được mục tiêu đề ra trên cơ sở thực hiện đúng các nguyên tắc của quản lý DTNHNN, thị trường tiền tệ và thị trường trái phiếu là hai nơi được Ngân hàng trung ương các nước lựa chọn để đầu tư thông qua các một số nghiệp vụ cơ bản sau: * Nghiệp vụ đầu tư tiền gửi không kỳ hạn Đây là loại tiền gửi với mục đích phục vụ nhu cầu thanh toán, nó tùy thuộc vào chính sách của từng ngân hàng, khách hàng có thể được hưởng lãi hoặc không được hưởng lãi.
Thông thường các ngân hàng trả lãi cho khách hàng phần vượt số dư tối thiểu theo qui định ( ngân hàng không trả lãi cho phần số dư tối thiểu, mà nó được duy trì để bù đắp các chi phí liên quan đến tài khoản). Một số ngân hàng trả lãi hàng ngày (lãi nhập gốc), nhưng đa số các ngân hàng thực hiện trả lãi vào cuối tháng, lãi suất thay đổi theo ngày và phụ thuộc vào qui mô số dư tài khoản. * Nghiệp vụ đầu tư tiền gửi có kỳ hạn Gửi tiền có kỳ hạn thực chất là hợp đồng cho vay/đi vay với thời hạn và lãi suất thỏa thuận. Thông thường, thời hạn từ 1 tuần đến dưới 1 năm.
Đây là hình thức đầu tư đơn giản nhất trên thị trường tiền tệ. Khách hàng sử dụng dịch vụ này không được rút tiền trước hạn.