PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Cung tiền cùng với dự trữ ngoại hối là những yếu tố được quan tâm bởi các nền kinh tế trên thế giới, cả hai đóng vai trò quan trọng để đảm bảo sự ổn định của các nền kinh tế. Cung tiền là một trong những công cụ kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước nhằm duy trì ổn định nền kinh tế vĩ mô. Trong trường hợp cung tiền tăng nhanh hơn mức tăng sản lượng thực sẽ gây ra lạm phát cao trong nền kinh tế, dẫn đến sự bất ổn đối với các nền kinh tế, đặc biệt là các nền kinh tế mới nổi.
Dự trữ ngoại hối có vai trò phòng ngừa cho các khoản nợ ngoại tệ của một quốc gia. Ngoài ra dự trữ ngoại hối phục vụ nhiều mục đích khác như đảm bảo rằng cơ quan chính phủ có nguồn dự phòng nếu đồng tiền của quốc gia bị mất giá nhanh chóng hoặc trở nên mất khả năng thanh toán trước những cú sốc không mong muốn. Vào năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO, Việt Nam thực hiện cam kết tự do hoá thị trường và mở cửa kinh tế. Luồng vốn đầu tư nước ngoài chảy mạnh vào Việt Nam, tạo sức ép tăng giá trị đồng nội tệ.
Khi đó NHNN đã thực hiện các hoạt động can thiệp để duy trì ổn định tỷ giá hối đoái, nguồn dự trữ của Việt Nam tăng liên tục, đạt đỉnh điểm năm 2008 là hơn 24 tỷ USD. Kéo theo đó là nguồn cung tiền mở rộng và mức lạm phát cuối năm 2008 tăng hơn 23% so với năm 2017. Vì vậy, khi NHNN Việt Nam tăng dự trữ ngoại hối liên tục với lượng lớn trong những năm gần đây. Như cuối quý 1/2019, dự trữ ngoại hối đạt mức 65,5 tỷ USD; tăng hơn 2,3 lần so với dự trữ ngoại hối cuối năm 2015.
Và mức dự trữ tiếp tục gia tăng đến cuối quý 3/2019 đạt mức 71 tỷ USD và có thể tiếp tục tăng trong tương lai. Từ đó, đặt ra những lo ngại về tác động mở rộng cung tiền quá mức dẫn đến rủi ro tăng lạm phát cao, điều này có thể dẫn đến nền kinh tế tăng trưởng không ổn định. 0 0 h Các nghiên cứu của Phạm Thị Hoàng Anh & Bùi Duy Phú (2013), Tô Trung Thành (2013), Pham & Le (2018) tại Việt Nam chỉ ra NHNN có vô hiệu hoá các can thiệp ngoại hối, đều phân tích tác động từ thay đổi tài sản nước ngoài ròng ảnh hưởng đến nguồn cung tiền cơ sở của NHNN; đo lường hiệu lực vô hiệu hoá can thiệp thay đổi dự trữ ngoại hối dựa trên mối quan hệ giữa thay đổi tài sản nước ngoài ròng và thay đổi tài sản nội địa ròng. Các nghiên cứu trên chưa quan tâm đến tác động của thay đổi tài sản nước ngoài ròng đến nguồn cung tiền rộng (tổng phương tiện thanh toán) được cho là có ảnh hưởng đến lạm phát.
Trong nghiên cứu của Pham & Riedel (2012) phân tích thay đổi gia tăng dự trữ ngoại hối có mối quan hệ đến mở rộng nguồn cung tiền cơ sở, từ đấy đưa ra những đánh giá về ảnh hưởng đến tăng trưởng nguồn cung tiền rộng; tuy nhiên nghiên cứu chỉ trình bày mối quan hệ giữa tài sản nước ngoài ròng của NHNN với nguồn cung tiền rộng, chưa thực hiện nghiên cứu định lượng phân tích tác động của tăng dự trữ ngoại hối đến gia tăng mở rộng nguồn cung tiền. Ngoài việc phân tích tác động của dự trữ ngoại hối đến nguồn cung tiền, tác giả bổ sung thêm một góc nhìn trong phân tích tác động thay đổi trong tài sản nước ngoài ròng đến nguồn cung tiền rộng dựa bảng cân đối của hệ thống ngân hàng thay vì chỉ sử dụng bảng cân đối của NHNN. Bên cạnh đó, tác giả phân tích kết quả từ thay đổi trong dự trữ ngoại hối của NHNN tác động đến gia tăng bao nhiêu trong nguồn cung tiền rộng, dù NHNN thực hiện biện pháp vô hiệu hoá can thiệp ngoại hối như phân tích các nghiên cứu trên tại Việt Nam. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu phân tích tác động của quá trình gia tăng tích luỹ dự trữ ngoại hối tác động đến nguồn cung tiền rộng.
Câu hỏi nghiên cứu là “Tác động của dự trữ ngoại hối đến nguồn cung tiền rộng tại Việt Nam. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng của nghiên cứu là nguồn cung tiền rộng, tích luỹ dự trữ ngoại hối và các hoạt động can thiệp vô hiệu hoá của NHNN Việt Nam. Tác giả sử dụng dữ liệu trong nghiên cứu lấy trong giai đoạn từ quý 1/2000 đến quý 4/2018 tại Việt Nam để phân tích tác động của dự trữ ngoại hối đến nguồn cung tiền rộng. Do trong năm 2000, trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM chính thức đi vào hoạt động, hình thành kênh thanh khoản cho thị trường và tạo thuận lợi cho hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài.
Phƣơng pháp nghiên cứu Nghiên cứu dùng phương pháp định lượng để phân tích tác động của quá trình gia tăng tích luỹ dự trữ ngoại hối đến mở rộng nguồn cung tiền rộng tại Việt Nam. Phương pháp thực hiện bằng mô hình tự hồi quy véctơ (VAR) để phân tích các yếu tố ảnh hưởng lên nguồn cung tiền rộng, dựa trên bảng cân đối của hệ thống ngân hàng; gồm có thay đổi của các giao dịch với nước ngoài (bao gồm tài sản nước ngoài ròng được nắm giữ bởi NHNN và tài sản nước ngoài ròng tại các NHTM), thay đổi trong tín dụng cho khu vực tư nhân vay và thay đổi trong phần còn lại của bảng cân đối. Cấu trúc của bài luận văn Ngoài phần danh mục từ viết tắt, danh mục bảng và hình, tóm tắt, tài liệu tham khảo, phụ lục. Bài thực hiện gồm có 5 chương, bao gồm: Chƣơng 1: Giới thiệu về đề tài.
(Đã trình bày) Chƣ ơng 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu các nghiên cứu thực nghiệm. Trong chương này, tác giả đưa ra những lý thuyết phù hợp và tóm tắt các nghiên cứu trước về công cụ can thiệp thị trường ngoại hối, mối quan hệ giữa tài sản nước ngoài, nguồn cung tiền, tín dụng nội địa; ảnh hưởng từ mở rộng cung tiền dẫn đến những rủi ro lạm phát tiềm ẩn trên thế giới và Việt Nam; vai trò vô hiệu 0 0 h hoá các can thiệp trong ổn định nền kinh tế vĩ mô; và cơ chế tạo ra nguồn cung tiền khi gia tăng tích luỹ dự trữ ngoại hối Chƣ ơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu và các biến trong nghiên cứu. Ở chương này, tác giả trình bày phương pháp thực hiện và nguồn thu thập dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu. Mô tả phương thức xử lý, tính toán các biến để đưa vào mô hình.
Chƣ ơng 4: Kết quả nghiên cứu. Chương này tác giả thực hiện các kiểm định mô hình. Nêu lên kết quả và trình bày giải thích cho các kết quả nghiên cứu. Xem xét mối quan hệ giữa các biến kinh tế vĩ mô (GDP, CPI) và các biến trong bảng cân đối hệ thống ngân hàng (NFACB, NFAB, CRED, OTHER), trong đó chủ yếu giải thích ảnh hưởng của tài sản nước ngoài ròng của NHNN lên nguồn cung tiền.
Chƣ ơng 5: Kết luận và hàm ý chính sách. Trong chương này, tác giả tổng kết các kết luận về mục tiêu nghiên cứu và các hạn chế của bài nghiên cứu. Dựa trên các kết luận, tác giả đưa ra hàm ý chính sách. Tác giả nêu lên những hạn chế trong thực hiện nghiên cứu của mình.
Kết luận: Đưa ra lý do cho mối quan tâm về mục tiêu nghiên cứu đang thực hiện, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Đồng thời đưa ra phương pháp nghiên cứu và tóm tắt trình tự cấu trúc bài luận. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.1 Dự trữ ngoại hối Trong Cẩm nang Cán cân Thanh toán Quốc tế, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) định nghĩa dự trữ ngoại hối là toàn bộ tài sản bằng ngoại hối sẵn sàng sử dụng để can thiệp, thể hiện trên bảng cân đối tiền tệ của NHTW. Hầu hết các quốc gia duy trì và quản lý dự trữ ngoại hối nhằm phục vụ các mục tiêu cơ bản sau: thực hiện chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá; duy trì tính thanh khoản của thị trường ngoại hối để hạn chế tác động tiêu cực trong trường hợp xảy ra khủng hoảng tài chính; là tài sản dự trữ để duy trì lòng tin về khả năng đảm bảo thanh toán nghĩa vụ nợ nước ngoài của nền kinh tế, khả năng hỗ trợ giá trị của đồng nội tệ, thể hiện khả năng đảm bảo tài chính của quốc gia góp phần thu hút đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp nước ngoài; dự trữ cho các trường hợp khẩn cấp và thảm họa mang tính quốc gia.
Nghiên cứu của Aizenman & Glick (2009) đưa ra những động cơ của t ích luỹ dự trữ ngoại hối là để đáp lại nhu cầu phòng ngừa trước sự đảo chiều của dòng vốn vào hay bù đắp các rủi ro tài chính; giảm tác động từ các cú sốc thương mại đối với tỷ giá hối đoái thực và xuất khẩu; tránh phải phụ thuộc vào các tổ chức tài chính quốc tế như IMF, WB, và một số tổ chức tài chính quốc tế khác; hoặc thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu bằng phá giá tiền tệ.2 Can thiệp ngoại hối Can thiệp ngoại hối là một công cụ của ngân hàng trung ương. Ngân hàng trung ương tham gia trong vai trò là người can thiệp ảnh hưởng đến tốc độ lưu chuyển tiền tệ quốc gia. Đặc biệt ở các nước đang phát triển, can thiệp vào thị trường ngoại hối để tăng tích luỹ dự trữ hay hỗ trợ các ngân hàng thương mại. 0 0 h Mục đích chủ yếu của can thiệp ngoại hối là ngân hàng trung ương thường mong muốn ổn định tỷ giá hối đoái.
Ngoài ra một vài nghiên cứu còn chỉ ra các mục tiêu của can thiệp như, theo Uribe & Toro (2005) thì các mục tiêu chính của can thiệp là để tránh sự biến động quá mức của tỷ giá hối đoái danh nghĩa theo cách phù hợp để đạt được mục tiêu lạm phát; củng cố vị thế thanh khoản quốc tế của quốc gia bằng cách tích lũy dự trữ ngoại hối mà không ảnh hưởng đến việc đạt được mục tiêu lạm phát hoặc khiến tỷ giá hối đoái lệch khỏi các giá trị cơ bản; kiểm soát sự biến động quá mức và đột ngột của tỷ giá hối đoái từ xu hướng gần đây của nó; và để tránh tạo ra những kỳ vọng về sự đánh giá cao hoặc thấp có thể dẫn đến sự sai lệch đáng kể của tỷ giá hối đoái so với các nguyên tắc cơ bản của nó.