Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại tại Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thanh Tú, thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế (mã số: 9380107) tại Trường Đại học Luật Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Phạm Thị Giang Thu và TS. Đồng Ngọc Ba. Công trình được bảo vệ chính thức vào ngày 17 tháng 12 năm 2019.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ ba lý do cơ bản:

  • Về mặt thực tiễn: Lịch sử tài chính thế giới (điển hình là cuộc Đại khủng hoảng 1929–1933) cho thấy sự thiếu kiểm soát đối với hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại (NHTM) có thể dẫn tới bất ổn kinh tế vĩ mô. Tại Việt Nam, hoạt động đầu tư (góp vốn, mua cổ phần, đầu tư chứng khoán) ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu hoạt động của NHTM nhằm phân tán rủi ro và tìm kiếm lợi nhuận. Tuy nhiên, hoạt động này tiềm ẩn nguy cơ xung đột lợi ích, sở hữu chéo và mất an toàn hệ thống tín dụng.
  • Về mặt pháp luật: Mặc dù Luật các Tổ chức tín dụng (năm 1997, 2004, 2010 và sửa đổi, bổ sung năm 2017) cùng các văn bản hướng dẫn đã hình thành hành lang pháp lý, nhưng hệ thống quy phạm về hoạt động đầu tư của NHTM vẫn bộc lộ nhiều bất cập, khoảng trống và sự thiếu đồng bộ.
  • Về mặt nghiên cứu: Các công trình khoa học trong nước trước đây chủ yếu tập trung vào hoạt động huy động vốn, cấp tín dụng hoặc tiếp cận hoạt động đầu tư thuần túy dưới góc độ kinh tế học. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu dưới góc độ luật học về hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM tại Việt Nam.

Mục đích nghiên cứu của luận án là xây dựng cơ sở lý luận về hoạt động đầu tư và pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành.

Để đạt được mục đích trên, luận án giải quyết 4 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu và xây dựng khái niệm hoạt động đầu tư của NHTM, xác định các đặc điểm đặc thù phân biệt với hoạt động ngân hàng truyền thống và các hoạt động đầu tư khác.
  2. Xây dựng khái niệm, cấu trúc của pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM và chỉ ra các yếu tố tác động đến bộ phận pháp luật này.
  3. Nghiên cứu lý luận và thực tiễn các nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM tại Việt Nam (phương thức đầu tư, điều kiện và trình tự thực hiện, biện pháp bảo đảm an toàn, quản lý nhà nước).
  4. Đề xuất các định hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng trong bối cảnh tái cơ cấu và hội nhập kinh tế.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống quan điểm khoa học, học thuyết pháp lý, hệ thống quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM (Luật các Tổ chức tín dụng, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán, các văn bản của Ngân hàng Nhà nước, chuẩn mực quốc tế như Hiệp ước Basel) và thực tiễn áp dụng tại các NHTM Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn về thời gian từ khi ban hành Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 đến năm 2019. Về nội dung, luận án tập trung vào 3 hình thức đầu tư chủ yếu: góp vốn, mua cổ phần; kinh doanh chứng khoán; và ủy thác đầu tư. Luận án không nghiên cứu hoạt động tín dụng đầu tư, đầu tư vào tài sản cố định, kinh doanh ngoại hối và kinh doanh vàng.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Phần tổng quan của luận án hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu liên quan theo hai nhóm tiếp cận chính:

Nhóm nghiên cứu trên khía cạnh pháp luật

  • Các công trình trong nước: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Kiên Bích Tuyền (2019) nghiên cứu về pháp luật sử dụng vốn của NHTM; luận án tiến sĩ của Ngô Quốc Kỳ (2003) về pháp luật hoạt động của NHTM trong kinh tế thị trường. Các bài viết chuyên khảo của Phạm Thị Giang Thu (2007, 2013) về cơ sở pháp lý cho ngân hàng tham gia thị trường tài chính và hoạt động góp vốn, mua cổ phần; bài viết của Phạm Thị Giang Thu và Nguyễn Ngọc Lương (2014) về hạn chế pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư trái phiếu doanh nghiệp; bài viết của Nguyễn Đức Ngọc (2010) về pháp luật ngân hàng Hoa Kỳ; bài viết của Nguyễn Văn Tuyến (2007, 2008) về sự can thiệp của Nhà nước đối với giao dịch thương mại của ngân hàng; nghiên cứu của Nguyễn Đức Trung và Mạnh Hùng (2013) về thực trạng sở hữu chéo; nghiên cứu của Đoàn Thanh Hà và Phan Thị Thúy Diễm (2013), Lê Ngọc Hân và Bùi Thị Thanh Tình (2013) về thanh tra, giám sát ngân hàng.
  • Các công trình quốc tế: Các nghiên cứu về sự chia tách và kết hợp giữa ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư tại Hoa Kỳ qua Đạo luật Glass-Steagall (1933) và Đạo luật Gramm-Leach-Bliley (1999) như Arnold W. Sametz và Michael Keenan (1979), Sarah A. Wagman (1994), Simon H. Kwan (1997), Thomas G. Fischer và cộng sự (1984). Nghiên cứu về cải cách tài chính tại Nhật Bản của Masaki Yagyu (1994) và Henry Laurence (2001); nghiên cứu so sánh quy định cấu trúc ngân hàng (Quy tắc Volcker ở Hoa Kỳ, Ủy ban Vickers ở Anh, Báo cáo Liikanen ở EU) của Leonardo Gambacorta và Adrian van Rixtel (2013); các nghiên cứu về an toàn hệ thống tài chính Đông Á của Mamiko Yokoi-Arai (2002).

Nhóm nghiên cứu trên khía cạnh kinh tế

  • Các công trình trong nước: Sách chuyên khảo của Mạc Quang Huy (2009) về nghiệp vụ ngân hàng đầu tư; luận án tiến sĩ kinh tế của Lê Thị Hương (2003) về hiệu quả hoạt động đầu tư của NHTM; luận án của Tạ Hoàng Hà (2015) về phát triển ngân hàng đầu tư; luận án của Nguyễn Anh Tuấn (2012) về quản trị rủi ro theo Hiệp ước Basel; luận án của Vũ Hoàng Nam (2015) về đầu tư kinh doanh trái phiếu; đề tài cấp ngành của Trần Dục Thức (2014) về quan hệ sở hữu giữa tổ chức tín dụng với công ty con, công ty liên kết; nghiên cứu của Vũ Thanh Tự Anh và nhóm giảng viên Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright (2013) về sở hữu chéo giữa tổ chức tín dụng và tập đoàn kinh tế; công trình của Đặng Ngọc Đức và Nguyễn Đức Hiển (2014) về tái cơ cấu hệ thống NHTM.
  • Các công trình quốc tế: Nghiên cứu của Thomas M. Hoenig và Charles S. Morris (2012) về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng; báo cáo của C. Borio và R. Filosa (1994) về sự thay đổi ranh giới ngân hàng; nghiên cứu của Joao A.C. Santos (1998) về ngân hàng thương mại trong kinh doanh chứng khoán; các công trình của Tabarrok (1998), Mike Adu-Gyamfi (2016), Arnoud W.A. Boot và Lev Ratnovski (2012), Manju Puri (1996), Demsetz và Strahan (1997), Wonsik Sul và Joon Seok Oh (1999).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Hầu hết các công trình đã công bố chỉ tiếp cận hoạt động đầu tư ở từng khía cạnh hẹp, thiên về phân tích kinh tế hoặc xem pháp luật như yếu tố tác động bên ngoài. Luận án của Nguyễn Thị Thanh Tú định vị là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu dưới góc độ luật học về cấu trúc pháp luật, thực trạng điều chỉnh và giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với hoạt động đầu tư của NHTM tại Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án dựa trên các nền tảng lý thuyết và khái niệm pháp lý - kinh tế:

  • Lý thuyết kinh tế thị trường và quyền tự do kinh doanh trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.
  • Lý thuyết về kiểm soát sự can thiệp của Nhà nước và phòng ngừa rủi ro hệ thống tài chính.
  • Lý thuyết về mô hình tổ chức ngân hàng: Phân tích mô hình ngân hàng chuyên doanh (tách bạch ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư theo tinh thần Glass-Steagall) và mô hình ngân hàng đa năng (universal banking), mô hình tập đoàn tài chính (Financial Holding Company).
  • Chuẩn mực an toàn vốn và quản trị rủi ro theo Hiệp ước Basel (Basel II, Basel III).
  • Khung cấu trúc pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM gồm 4 bộ phận quy phạm: (1) Phương thức thực hiện; (2) Điều kiện và trình tự thực hiện; (3) Biện pháp bảo đảm an toàn; (4) Quản lý nhà nước.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Áp dụng xuyên suốt các chương để phân tích quy định của Luật các Tổ chức tín dụng, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, các văn bản dưới luật và tổng hợp các quan điểm học thuật.
  • Phương pháp luật học so sánh: So sánh các mô hình pháp lý điều chỉnh hoạt động đầu tư ngân hàng của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Anh và các nước Liên minh Châu Âu nhằm rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
  • Phương pháp phán đoán khoa học: Dự báo các xu hướng biến động thị trường, nguy cơ rủi ro và định hướng hoàn thiện khung pháp lý.
  • Phương pháp thống kê, xử lý số liệu thực tế: Thu thập, phân tích số liệu từ báo cáo tài chính của các NHTM Việt Nam (ACB, Eximbank, Sacombank, Vietcombank, VietinBank, BIDV, Đại Á, Kiên Long...) và các vụ án kinh tế thực tế (vụ Huỳnh Thị Huyền Như, vụ Nguyễn Đức Kiên).

Nội dung chính theo từng chương

Bố cục của luận án gồm Phần mở đầu, Phần I (Tổng quan tình hình nghiên cứu), Phần II (Nội dung luận án gồm 3 chương), Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục.

Phần / Chương Tên nội dung theo văn bản Trọng tâm phân tích và dữ liệu
Phần I Tổng quan tình hình nghiên cứu Tổng thuật các công trình trong và ngoài nước; xác định khoảng trống nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu.
Chương I Tổng quan về hoạt động đầu tư của NHTM và vấn đề hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM Khái niệm hoạt động đầu tư của NHTM (tr. 42); 5 đặc điểm của hoạt động đầu tư; khái niệm và cấu trúc pháp luật (tr. 62–63); 4 tiêu chí hoàn thiện pháp luật (tr. 70).
Chương II Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM tại Việt Nam Phân tích 4 nội dung pháp luật thực định (tr. 83–141); đánh giá Bảng 1 về tỷ lệ góp vốn, Hình 1 & 3 về sở hữu chéo, Hình 4 về mô hình giám sát tài chính.
Chương III Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM tại Việt Nam Đề xuất 4 định hướng lớn (tr. 142); 13 nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật và 4 giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành (tr. 147–176); xây dựng mô hình tập đoàn tài chính.

Chương I: Tổng quan về hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại và vấn đề hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại

Chương I giải quyết các vấn đề lý luận nền tảng:

  • Khái niệm hoạt động đầu tư của NHTM: Luận án phân tích các cách tiếp cận khác nhau và đưa ra định nghĩa tại trang 42, làm rõ bản chất đầu tư tài chính của NHTM so với hoạt động cấp tín dụng truyền thống và hoạt động đầu tư của các chủ thể kinh doanh khác.
  • Đặc điểm của hoạt động đầu tư của NHTM: Luận án xác định 5 đặc điểm cơ bản: (1) Chủ thể thực hiện là định chế tài chính trung gian nhận tiền gửi; (2) Nguồn vốn đầu tư gắn liền với vốn huy động và vốn tự có; (3) Mục tiêu kép gồm tối đa hóa lợi nhuận và phân tán rủi ro; (4) Chứa đựng rủi ro cao và tiềm ẩn nguy cơ xung đột lợi ích; (5) Chịu sự điều chỉnh chặt chẽ bởi các chuẩn mực an toàn hệ thống.
  • Cấu trúc pháp luật điều chỉnh: Tại trang 62–63, tác giả xác định pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM gồm 4 nhóm quy phạm cơ bản:
    1. Quy định về phương thức thực hiện hoạt động đầu tư.
    2. Quy định về điều kiện và trình tự thực hiện hoạt động đầu tư.
    3. Quy định về các biện pháp bảo đảm an toàn cho hoạt động đầu tư.
    4. Quy định về quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư của NHTM.
  • Tiêu chí hoàn thiện pháp luật: Luận án xác định việc hoàn thiện pháp luật phải giải quyết hài hòa giữa hai yêu cầu: đảm bảo quyền tự do kinh doanh của NHTM và kiểm soát hiệu quả rủi ro, bảo vệ an toàn hệ thống tài chính tiền tệ quốc gia (trang 70).

Chương II: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Chương II tập trung phân tích 4 nội dung thực trạng pháp luật thực định gắn liền với số liệu và thực tiễn thi hành:

  • Thực trạng quy định về phương thức thực hiện đầu tư (Mục 2.1, tr. 83): Đánh giá các quy định về góp vốn, mua cổ phần; đầu tư kinh doanh chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, giấy tờ có giá) và ủy thác đầu tư. Tác giả chỉ ra sự bất cập trong quy định về đầu tư gián tiếp qua công ty con, công ty liên kết và các lỗ hổng trong hoạt động ủy thác đầu tư vốn.
  • Thực trạng quy định về điều kiện và trình tự thực hiện (Mục 2.2, tr. 99): Phân tích các tiêu chí tài chính, tỷ lệ an toàn vốn, quy trình xin phép Ngân hàng Nhà nước khi góp vốn, mua cổ phần; sự thiếu rõ ràng trong thủ tục đầu tư chứng khoán và ủy thác.
  • Thực trạng quy định về bảo đảm an toàn (Mục 2.3, tr. 114): Phân tích Bảng 1 về tổng mức góp vốn, mua cổ phần tối đa của tổ chức tín dụng so với vốn điều lệ và quỹ dự trữ. Luận án chỉ ra các biểu hiện sở hữu chéo phức tạp thông qua phân tích sơ đồ thực tế:
    • Hình 1 (tr. 122): Mối quan hệ sở hữu chéo giữa ACB với Đại Á, Kiên Long và VietBank.
    • Hình 3 (tr. 124): Cơ cấu sở hữu phức tạp giữa ACB, Eximbank, Sacombank và một số NHTM cổ phần khác.
    • Phân tích các vi phạm thực tế từ các đại án kinh tế như vụ Huỳnh Thị Huyền Như (lợi dụng hoạt động ủy thác gửi tiền/đầu tư) và vụ Nguyễn Đức Kiên (thành lập doanh nghiệp sân sau để thâu tóm, đầu tư chéo cổ phần ngân hàng).
  • Thực trạng quy định về quản lý nhà nước (Mục 2.4, tr. 126): Phân tích Hình 4 (tr. 135) về mô hình giám sát tài chính phân tán hiện nay tại Việt Nam giữa Ngân hàng Nhà nước, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính), chỉ ra sự thiếu hụt cơ chế điều phối giám sát hợp nhất đối với các tập đoàn tài chính đa năng.

Chương III: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Chương III xây dựng hệ thống quan điểm và kiến nghị hoàn thiện gồm:

  • Bốn định hướng lớn (Mục 3.1, tr. 142):
    1. Bảo đảm sự phù hợp với đường lối, chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tái cơ cấu hệ thống tài chính.
    2. Kết hợp hài hòa giữa mở rộng quyền tự do kinh doanh của NHTM với tăng cường trật tự, kỷ cương và bảo đảm an toàn hệ thống.
    3. Bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và minh bạch trong hệ thống pháp luật (giữa Luật các TCTD với Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán).
    4. Tiếp thu có chọn lọc các chuẩn mực và kinh nghiệm pháp lý quốc tế (Hiệp ước Basel, các nguyên tắc giám sát ngân hàng hiệu quả).
  • Hệ thống giải pháp (Mục 3.2, tr. 147–176): Đề xuất 13 giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật và 4 giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành:
    • Giải pháp về mô hình: Bổ sung khung pháp lý về mô hình tập đoàn tài chính (Financial Holding Company) tại các trang 145–151 nhằm kiểm soát minh bạch quan hệ mẹ - con, ngăn ngừa việc chuyển vốn nội bộ và xử lý triệt để tình trạng sở hữu chéo.
    • Giải pháp về phương thức và điều kiện đầu tư: Sửa đổi quy định về giới hạn góp vốn, mua cổ phần; hoàn thiện quy chế đầu tư trái phiếu doanh nghiệp; chuẩn hóa quy định về ủy thác đầu tư để chấm dứt tình trạng lách luật.
    • Giải pháp về bảo đảm an toàn: Nâng cao tiêu chuẩn an toàn vốn theo Basel II/Basel III; quy định chặt chẽ giới hạn sở hữu cổ phần của cổ đông lớn và người có liên quan.
    • Giải pháp về quản lý nhà nước: Hoàn thiện mô hình cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng; xây dựng cơ chế phối hợp thông tin giám sát hợp nhất giữa NHNN, Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Hệ thống hóa và làm rõ khái niệm, 5 đặc điểm đặc thù của hoạt động đầu tư do NHTM thực hiện trong nền kinh tế thị trường.
  2. Xây dựng mô hình lý luận về cấu trúc pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM gồm 4 bộ phận quy phạm thống nhất: phương thức thực hiện, điều kiện - trình tự, biện pháp bảo đảm an toàn và quản lý nhà nước.
  3. Xác lập các tiêu chí khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư ngân hàng, tạo cơ sở lý luận cho công tác nghiên cứu và hoạch định chính sách.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Đánh giá toàn diện thực trạng các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động góp vốn mua cổ phần, đầu tư chứng khoán và ủy thác đầu tư của NHTM tại Việt Nam từ năm 2010 đến 2019.
  2. Nhận diện và làm rõ thực trạng sở hữu chéo, đầu tư thâu tóm thông qua số liệu cụ thể của các ngân hàng thương mại cổ phần và phân tích sai phạm trong các vụ án thực tế (vụ án Huỳnh Thị Huyền Như, vụ án Nguyễn Đức Kiên).
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp khả thi, trọng tâm là đề xuất xây dựng quy chế pháp lý cho mô hình tập đoàn tài chính (Financial Holding Company) và thiết lập cơ chế giám sát tài chính hợp nhất tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Phạm vi nghiên cứu của luận án giới hạn trong ba phương thức đầu tư (góp vốn mua cổ phần, kinh doanh chứng khoán, ủy thác đầu tư) và không bao quát các nghiệp vụ tín dụng đầu tư, đầu tư tài sản cố định, kinh doanh vàng và ngoại hối. Một số khía cạnh lý luận về lợi thế thông tin của NHTM trong đầu tư hoặc phân tích sâu nguồn vốn đầu tư chứng khoán chưa được triển khai chi tiết do giới hạn dung lượng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu khung pháp lý cho các sản phẩm đầu tư tài chính phái sinh phức tạp của NHTM; nghiên cứu chi tiết cơ chế hoạt động và giám sát tập đoàn tài chính đa năng trong điều kiện hội nhập sâu rộng theo các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan lập pháp và quản lý nhà nước: Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ việc sửa đổi, bổ sung Luật các Tổ chức tín dụng và ban hành các thông tư quy định về tỷ lệ an toàn, kiểm soát sở hữu chéo của Ngân hàng Nhà nước.
  • Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học: Làm tài liệu tham khảo cho giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính - Ngân hàng tại các cơ sở đào tạo luật.
  • Đối với các ngân hàng thương mại: Hỗ trợ ban điều hành và bộ phận pháp chế của các NHTM trong việc rà soát tuân thủ, nhận diện rủi ro pháp lý và quản trị danh mục đầu tư tài chính.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa hoạt động đầu tư của NHTM như thế nào?

Luận án xác định hoạt động đầu tư của NHTM tại trang 42 là hoạt động sử dụng vốn tự có và vốn huy động của NHTM để góp vốn, mua cổ phần, mua bán chứng khoán và thực hiện các hình thức đầu tư tài chính khác nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận và phân tán rủi ro, chịu sự kiểm soát chặt chẽ bởi các tỷ lệ an toàn hệ thống.

2. Cấu trúc pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM gồm những bộ phận nào?

Theo phân tích tại trang 62–63 của luận án, cấu trúc pháp luật gồm 4 bộ phận quy phạm:

  1. Quy định về phương thức thực hiện hoạt động đầu tư.
  2. Quy định về điều kiện và trình tự thực hiện hoạt động đầu tư.
  3. Quy định về các biện pháp bảo đảm an toàn trong hoạt động đầu tư.
  4. Quy định về quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư của NHTM.

3. Vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống NHTM được luận án minh chứng qua những dữ liệu nào?

Luận án minh họa thực trạng sở hữu chéo qua sơ đồ phân tích cơ cấu sở hữu:

  • Hình 1 (trang 122): Mối quan hệ giữa Ngân hàng Á Châu (ACB) với Ngân hàng Đại Á, Ngân hàng Kiên Long và VietBank.
  • Hình 3 (trang 124): Cơ cấu sở hữu phức tạp giữa ACB, Eximbank, Sacombank và một số NHTM khác.

4. Luận án đưa ra kiến nghị trọng tâm nào về mô hình tổ chức để kiểm soát hoạt động đầu tư?

Tại trang 145–151 của Chương III, luận án đề xuất bổ sung quy định pháp luật về mô hình tập đoàn tài chính (Financial Holding Company) nhằm thiết lập ranh giới pháp lý minh bạch giữa hoạt động ngân hàng thương mại truyền thống với các công ty con hoạt động đầu tư, chứng khoán, bảo hiểm, qua đó kiểm soát dòng vốn nội bộ và ngăn ngừa sở hữu chéo.

5. Luận án đã đề xuất bao nhiêu định hướng và giải pháp cụ thể?

Luận án đã đưa ra 4 định hướng hoàn thiện lớn, 13 giải pháp cụ thể về mặt sửa đổi, bổ sung quy phạm pháp luật và 4 giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật trên thực tế.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thanh Tú là công trình nghiên cứu chuyên sâu về mặt pháp lý đối với hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Công trình đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận về cấu trúc pháp luật điều chỉnh, đánh giá thực trạng các quy định thực định từ năm 2010 đến 2019 và chỉ ra các tồn tại về sở hữu chéo, rủi ro ủy thác đầu tư. Hệ thống giải pháp được đề xuất, đặc biệt là khung pháp lý về mô hình tập đoàn tài chính, cung cấp luận cứ khoa học có giá trị phục vụ công tác hoàn thiện pháp luật ngân hàng tại Việt Nam.