Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về pháp luật đầu tư và pháp luật ưu đãi đầu tư. Chương 2: Thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật về ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh. Chương 3: Một số giải pháp áp dụng hiệu quả pháp luật về ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh. 7 CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT ĐẦU TƢ VÀ PHÁP LUẬT VỀ ƢU ĐÃI ĐẦU TƢ 1.
Khái niệm và đặc điểm của pháp luật đầu tƣ 1. Khái niệm pháp luật đầu tư Đầu tư là một trong những vấn đề chiến lược quan trọng để phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, việc tranh thủ nguồn vốn từ các nhà đầu tư mang ý nghĩa vô cùng to lớn tạo bước đà cho việc phát triển khi đất nước ta đang tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Theo từ điển bách khoa toàn thư thì đầu tư là việc bỏ ra nguồn lực, nhân lực, tài lực nào đó sao cho có hiệu quả kinh tế xã hội. Như vậy, đầu tư phải mang lại một giá trị nhất định, giá trị sau phải lớn hơn giá trị ban đầu của các nguồn lực đầu tư.
Mục đích không thể phủ nhận từ các nhà đầu tư nhằm tạo ra lợi nhuận. Tuy nhiên không phải mọi hoạt động đầu tư đều đem lại lợi nhuận mà nó phải phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố theo quy luật phát triển của nền kinh tế thị trường. Lênin cho rằng: Đầu tư là yếu tố cần thiết để tạo ra một lượng của cải lớn trong xã hội, đầu tư không chỉ đem lại nguồn lực cho bản thân doanh nghiệp mà còn là hình thức tư sản tất yếu của xã hội. Nếu không có hoạt động đầu tư thì có thể xem xã hội đang rơi vào trạng thái đứng yên, thụt lùi vì nó sẽ không tạo ra giá trị thặng dư trong xã hội”1 Theo Luật Đầu tư năm 2005 thì đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình và vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Tài sản đầu tư ở đây bao gồm: tiền, vật, giấy tờ có giá và quyền tài sản được quy định trong pháp luật dân sự. Luật đầu tư năm 2014 ra đời thay thế cho Luật đầu tư năm 2005 tập trung làm rõ bản chất của đầu tư thông qua các khái niệm: đầu tư kinh doanh và nhà đầu tư. Tại khoản 5 Điều 3 Luật đầu tư 2014 quy định đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện các hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn; mua cổ phần; phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư. Còn tại khoản 13 Điều 3 1 Trường đại học kinh tế quốc dân , Giáo trình kinh tư tế đầu tư, NXB.
Sự Thật, Hà Nội 2004, tr.60 8 Luật đầu tư năm 2014 quy định nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh, gồm nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Từ những vấn đề trên, chứng minh rằng đầu tư phải có tính sinh lời, mỗi nhà đầu tư đều mong muốn mang lại lợi nhuận tốt nhất, không một nhà đầu tư nào chỉ mong muốn nhận được một khoản giá trị chỉ bẳng đúng hoặc thấp hơn so với vốn ban đầu. Đầu tư được hiểu là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội. Pháp luật là công cụ quản lý nhà nước và điều chỉnh các quan hệ xã hội, là hệ thống các quy phạm (quy tắc hành vi hay quy tắc xử sự), có tính chất bắt buộc chung và được thực hiện lâu dài nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí nhà nước và được nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp tổ chức, giáo dục, thuyết phục, cưỡng chế bằng bộ máy nhà nước.
Pháp luật là cơ sở pháp lý cho tổ chức hoạt động của đời sống xã hội có nhà nước, là công cụ để nhà nước thực hiện quyền lực. Pháp luật được thể hiện dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật và được thực hiện thông qua các hình thức tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật. Áp dụng pháp luật là một hoạt động có tính tổ chức, mang tính quyền lực nhà nước của các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền nhằm thực hiện trong thực tế, các quy phạm pháp luật trong những tình huống cụ thể của cuộc sống. Áp dụng pháp luật là hoạt động, một quá trình diễn ra theo một trình tự, thủ tục nhất định, là hình thức thực hiện pháp luật luôn gắn với công quyền.
Vai trò điều chỉnh đó trước hết và chủ yếu thể hiện ở các văn bản quy phạm pháp luật. Quy phạm pháp luật về đầu tư được nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực đầu tư, có tính bắt buộc chung, là khuôn mẫu để mọi chủ thể tuân thủ và là tiêu chí để đánh giá các hoạt động về đầu tư. Quy phạm pháp luật về đầu tư hiện nay được thể hiện ở các văn bản luật (Luật đầu tư, Luật Doanh Nghiệp, Luật Đất đai, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Luật chuyển giao công nghệ…); các văn bản dưới luật (Nghị định, thông tư, Quyết định), 9 nhưng dù dưới hình thức nào thì pháp luật về đầu tư chứa đựng các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ phát sinh trong quá trình thu hút và hoạt động đầu tư, quản lý của cơ quan có thẩm quyền đối với hoạt động đầu tư. Mỗi lĩnh vực pháp luật điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội tương ứng.
Pháp luật đầu tư là một lĩnh vự pháp luật điều chỉnh các hoạt động xã hội đầu tư kinh doanh và bao gồm cả quản lý nhà nước về đầu tư. Pháp luật đầu tư cũng thể hiện chính sách đầu tư, chính sách thu hút đầu tư từ nước ngoài và khuyến khích đầu tư trong nước của Nhà nước. Pháp luật đầu tư ra đời trong hoàn cảnh Việt Nam xây dựng cơ chế kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng. Nó chịu nhiều ảnh hưởng của các yếu tố quốc tế từ chuẩn mực kinh tế cho đến các quy định hiện hành về đầu tư tại các quốc gia phát triển cũng như các điều ước quốc tế về đầu tư mà Việt Nam tham gia.
Pháp luật đầu tư gồm các yếu tố: - Luật đầu tư và các văn bản hướng dẫn thi hành. - Các quy định liên quan về đầu tư được quy định trong các văn bản pháp lý thuộc các lĩnh vực luật chuyên ngành khác, bao gồm cả các văn bản hướng dẫn thi hành. - Các điều ước quốc tế về đầu tư hoặc liên quan đến đầu tư mà Việt Nam là thành viên. - Các tập quán đầu tư quốc tế được sử dụng được sử dụng bởi các bên liên quan.
Mặc dù đây là lĩnh vực pháp luật mới hình thành, nhưng luật đầu tư được thường xuyên rà soát, sửa đổi cho phù hợp với thực tiễn đầu tư và nhằm cải thiện môi trường pháp lý đầu tư tại Việt Nam cũng như phù hợp với các cam kết quốc tế trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia. Kể từ khi ra đời lần đầu tiên từ năm 1987 cho đến nay, Luật đầu tư đã trải qua 6 lần sửa đổi bổ sung để hoàn thiện. Bên cạnh đó những đạo luật khác có liên quan đến hình thức tổ chức kinh doanh như Luật Doanh nghiệp; liên quan đến thương mại – Luật Thương mại, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Sở hữu trí tuệ… luôn được hoàn thiện để đảm bảo tính thống nhất và đồng bộ của pháp luật về đầu tư. Nội dung của pháp luật đầu tư Xuất phát từ khái niệm của pháp luật đầu tư như trên, nội dung của pháp luật về đầu tư phải thể hiện sự điều chỉnh đầy đủ, toàn diện đối với các quan hệ phát sinh trong hoạt động đầu tư.
Có thể phân ra làm ba nhóm quan hệ chủ yếu: 10 - Nhóm quan hệ mang tính nội dung: Bao gồm các quy phạm pháp luật nhằm đảm bảo về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động đầu tư, kinh doanh, các quy định về chính sách ưu đãi đầu tư, quyền và nghĩa vụ của chủ thể quản lý nhà nước về đầu tư. - Nhóm quan hệ mang tính tổ chức, quản lý: Liên quan đến việc hình thành cơ chế, hệ thống tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư. Các quan hệ này liên quan đến việc hình thành cơ cấu tổ chức, quy định thẩm quyền và quy chế hoạt động của các cơ quan quản lý về đầu tư. - Nhóm quan hệ mang tính chất thủ tục, trình tự: Liên quan đến việc thực hiện các thủ tục hành chính trong hoạt động đầu tư.
Sự thể hiện đầy đủ các nhóm quan hệ trên đây trong pháp luật về đầu tư sẽ tạo ra khung pháp lý đối với hoạt động đầu tư, nhằm thu hút và quản lý đầu tư có hiệu quả, đặc biệt là đối với đầu tư nước ngoài. Đặc điểm của pháp luật đầu tư - Pháp luật về đầu tư là tổng thể các quy phạm pháp luật về đầu tư, vừa có quy phạm mang tính hành chính, có quy phạm mang tính thủ tục, vừa có quy phạm mang tính chính sách. Nhóm quy phạm mang tính hành chính thể hiện chủ yếu trong lĩnh vực quy định chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư, mối quan hệ phối hợp với các cơ quan có liên quan trong quản lý đầu tư. Nhóm quy phạm mang tính thủ tục chủ yếu thể hiện trong các quy định về trình tự, thủ tục đầu tư và thành lập doanh nghiệp, nội dung kiểm tra, thanh tra như: Cấp giấy chứng nhận đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và các thủ tục khác…Nhóm quy phạm mang tính chính sách như: quy định về chính sách ưu đãi, danh mục các dự án hưởng ưu đãi, danh mục địa bàn hưởng ưu đãi… - Nguồn của pháp luật về đầu tư rất phong phú và đa dạng.