Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, quyền CNDAĐT của NĐT lần đầu tiên được quy định trong Luật khuyến khích đầu tư trong nước năm 1998 và tiếp đến là LĐT năm 2005 và LĐT năm 2014. Những quy định của pháp luật về quyền CNDAĐT đã tạo điều kiện, cho phép NĐT chuyển nhượng được DAĐT khi có nhu cầu nên phần nào đã bảo đảm được quyền tự do kinh doanh, quyền tài sản của NĐT và tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, thuận lợi hơn.
Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay, Việt Nam chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về CNDAĐT và pháp luật về CNDAĐT. Các công trình nghiên cứu chuyên sâu về CNDAĐT, pháp luật về CNDAĐT chủ yếu là những bài viết được công bố trên một số tạp chí chuyên ngành luật. Ngoài ra, trong một số công trình nghiên cứu đã công bố có nội dung liên quan đến một số khía cạnh nghiên cứu của đề tài luận án, nhất là các vấn đề liên quan đến khái niệm, phân loại DAĐT; các vấn đề về QSH, quyền tài sản, quyền tự do hợp đồng, pháp luật về hợp đồng, điều kiện đầu tư kinh doanh, quyền tự do kinh doanh và quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư kinh doanh. Khảo cứu cho thấy đã có một số công trình nghiên cứu về các nội dung sau: * Nhóm các công trình nghiên cứu về chuyển nhượng dự án đầu tư và pháp luật về chuyển nhượng dự án đầu tư Tiêu biểu cho các công trình nghiên cứu về nội dung này là bài viết “Một số vấn đề pháp lý về chuyển nhượng dự án bất động sản” của tác giả Nguyễn Thị Kiều Oanh đăng trên Tạp chí Khoa học pháp lý, số 02, năm 2014 và bài viết “Vai trò của pháp luật trong việc chuyển nhượng dự án bất động sản” của TS.
Phan Thông Anh và Nguyễn Ngọc Biện Thùy Hương, đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề tháng 2, năm 2017. Cả hai công trình nghiên cứu này đã phân tích, đánh giá thực trạng một số quy định của pháp luật, vai trò của pháp luật trong CNDAĐT. Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng của pháp luật, bài viết 9 z “Một số vấn đề pháp lý về chuyển nhượng dự án bất động sản” của tác giả Nguyễn Thị Kiều Oanh đã đề xuất, kiến nghị sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về chuyển nhượng dự án bất động sản đặc biệt là hoàn thiện dự thảo Luật kinh doanh bất động sản như về thuật ngữ chuyển nhượng dự án bất động sản, ký quỹ với chủ đầu tư nhận chuyển nhượng, xử lý đối với chủ đầu tư mới nhận chuyển nhượng trong trường hợp vi phạm cam kết, xâm phạm quyền lợi ích của khác hàng, hình thức xử lý đối với những trường hợp chuyển nhượng dự án không đáp ứng yêu cầu, đơn giản trình tự, thủ tục chuyển nhượng. Tuy nhiên, nội dung bài viết chủ yếu tập trung vào phân tích đánh giá DAĐT bất động sản theo Luật kinh doanh bất động sản năm 2006 và so sánh với dự thảo Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi.
Vì thế, nhiều nội dung phân tích, đánh giá và kiến nghị của bài viết không còn phù hợp với quy định của pháp luật hiện nay. Đối với bài viết “Vai trò của pháp luật trong việc chuyển nhượng dự án bất động sản” đã nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định của Luật kinh doanh bất động sản năm 2014 và chỉ ra được đặc điểm của CNDAĐT chỉ làm thay đổi chủ sở hữu, chứ không chấm dứt hoạt động của dự án. Tuy nhiên, cả hai công trình nghiên cứu này mới chỉ nghiên cứu về một số quy định của pháp luật trong CNDAĐT bất động sản như yêu cầu, điều kiện trong CNDAĐT bất động sản mà chưa đi sâu nghiên cứu bản chất pháp lý của CNDAĐT, các vấn đề pháp lý phát sinh khi CNDAĐT, nội dung của pháp luật về CNDAĐT, hợp đồng CNDAĐT. cho nên còn nhiều nội dung liên quan đến luận án chưa được nghiên cứu.
* Nhóm các công trình nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm, phân loại dự án đầu tư Liên quan đến nội dung nghiên cứu này, có một số công trình nghiên cứu, tiêu biểu nhất là các giáo trình của Trường Đại học Kinh tế quốc dân như: Giáo trình Lập dự án đầu tư – Bộ môn Kinh tế đầu tư, Khoa Đầu tư, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, do PGS. Nguyễn Bạch Nguyệt chủ biên, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân 2013; Giáo trình Kinh tế đầu tư – Khoa Đầu tư, Trường Đại học Kinh tế quốc dân do PGS. Từ Quang Phương và PGS. Phạm Văn Hùng đồng chủ biên, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân 2013; Giáo trình 10 z Quản lý dự án - Bộ môn Kinh tế đầu tư, Khoa Đầu tư, Trường Đại học Kinh tế quốc dân do PGS.
Từ Quang Phương chủ biên, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân 2012; cuốn sách Quản lý dự án cơ sở lý thuyết và thực hành - của TS. Nguyễn Văn Phúc, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Nhà xuất bản Kinh tế quốc dân, 2008; Giáo trình phân tích và quản lý dự án đầu tư do Thái Bá Cẩn làm chủ biên – Nhà xuất bản Giáo dục 2013; Giáo trình Quản trị dự án đầu tư quốc tế và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Đại học Kinh tế quốc dân, do Tô Xuân Dân, Nguyễn Thị Hường, Nguyễn Thường Lạng chủ biên, Nhà xuất bản Thống kê, 1998; Giáo trình Quản lý dự án đầu tư, Đại học Kinh tế quốc dân, do Từ Quang Phương chủ biên, Nhà xuất bản Giáo dục, 2001. Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu khác như: cuốn sách Quản lý dự án đầu tư - do PTS.Bùi Thế Vĩnh, KS.Trần Thế Nhuận chủ biên, Nhà xuất bản Thống Kê, Hà Nội 1996; cuốn sách Quản trị dự án đầu tư của tác giả Nguyễn Xuân Thủy, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1995; cuốn sách Lập - Thẩm định hiệu quả tài chính DAĐT của tác giả Đinh Thế Hiển, Trung tâm Ứng dụng kinh tế thành phố, Viện Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Thống kê, 2002; Đề tài nghiên cứu “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật đảm bảo lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư” - Đề tài nghiên cứu cấp bộ của Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp năm 2012, do GS. Lê Hồng Hạnh làm chủ nhiệm đề tài.
Ở những mức độ khác nhau, các công trình trên đã có những nghiên cứu chuyên sâu về DAĐT, phân loại DAĐT, lập DAĐT, quy trình lập DAĐT, thẩm định DAĐT, quản trị DAĐT, phân tích đánh giá hiệu quả DAĐT. Đặc biệt, các công trình nghiên cứu trên đã đưa ra một số khái niệm, quan điểm, phân loại DAĐT. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên được thực hiện dưới góc độ kinh tế, góc độ quản lý hoặc dưới các góc độ khác mà chưa được nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. So với các công trình nghiên cứu khác, đề tài nghiên cứu cấp Bộ “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật đảm bảo lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư” do GS.
Lê Hồng Hạnh làm chủ nhiệm là công trình nghiên cứu 11 z chuyên sâu về xây dựng, hoàn thiện pháp luật để bảo đảm phát triển bền vững trong các DAĐT đã đưa ra một số quan điểm, khái niệm về đầu tư, NĐT, DAĐT. Tuy nhiên, nội dung nghiên cứu của đề tài này chỉ tập trung vào các vấn đề về môi trường, và làm thế nào để bảo đảm phát triển bền vững mà chưa nghiên cứu về DAĐT, CNDAĐT dưới góc độ pháp luật. Như vậy, mặc dù các công trình trên đã nghiên cứu chuyên sâu về đầu tư, DAĐT, nhưng các công trình này được thực hiện dưới góc độ kinh tế và chưa làm rõ được bản chất pháp lý của DAĐT. Đặc biệt, các công trình này chưa nghiên cứu về việc CNDAĐT, bản chất pháp lý của CNDAĐT.
* Nhóm các công trình nghiên cứu về LĐT, hoạt động đầu tư, đầu tư kinh doanh có điều kiện, NĐT và quản lý nhà nước về đầu tư kinh doanh Đối với nội dung nghiên cứu này tiêu biểu có một số công trình nghiên cứu như: "Sự hình thành và phát triển của luật đầu tư nước ngoài trong hệ thống pháp luật Việt Nam” - Luận án tiến sĩ của Đỗ Nhất Hoàng - Đại học Luật Hà Nội năm 2002; Công trình: “Một số nội dung cơ bản của các hiệp định đầu tư quốc tế” của Vụ Pháp chế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Nhà xuất bản Lao động 2003; Công trình “Rà soát Pháp luật Việt Nam với các cam kết WTO, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU và Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương về Mở cửa dịch vụ cho đầu tư nước ngoài” và công trình “Rà soát pháp luật Việt Nam với các cam kết của Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) về Đầu tư” của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Trung tâm WTO và Hội nhập do TS. Nguyễn Thị Thu Trang chủ biên, Nhà xuất bản Công thương năm 2017; Công trình nghiên cứu “Việt Nam 2035 hướng tới Thịnh vượng, Sáng tạo, Công bằng và dân chủ” của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Nhóm Ngân hàng Thế giới, Nhà xuất bản Hồng Đức năm 2016; “Báo cáo phát triển Việt Nam 2010, Các thể chế hiện đại” Báo cáo chung của các nhà tài trợ tại Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam, Hà Nội, 3-4 tháng 12 năm 2009 của các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế của Úc (Aus AID), Canada (CIDA), Đan Mạch, Phái đoàn Châu Âu, Phần Lan, Nhật Bản (JICA), Tây Ba Nha (AECID), Thụy Điển, Thụy Sỹ, Vương Quốc 12 z Anh, Liên hiệp quốc, Mỹ (USAID), và Ngân hàng Thế giới; công trình “Sách trắng các vấn đề thương mại và đầu tư và kiến nghị” của Eurocham xuất bản hàng năm; báo cáo “Báo cáo kinh doanh có điều kiện năm 2017” tháng 6 năm 2017 của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư; “Báo cáo rà soát điều kiện kinh doanh và quyền tự do kinh doanh ở Việt Nam” tháng 6 năm 2017 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và Ngân hàng Thế giới.