Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Chuyển nhượng dự án đầu tư theo pháp luật Việt Nam", chuyên ngành Luật Kinh tế (mã số 9380101.05), do nghiên cứu sinh Trương Thế Côn thực hiện tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2019 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Minh Mẫn. Luận án tập trung nghiên cứu toàn diện khung pháp lý và thực tiễn thực hiện chuyển nhượng dự án đầu tư (CNDAĐT) tại Việt Nam trong giai đoạn thi hành Luật Đầu tư năm 2005 và Luật Đầu tư năm 2014.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Từ khi thực hiện chính sách đổi mới năm 1986, Việt Nam đã ban hành nhiều đạo luật kinh tế quan trọng như Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước, Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Đầu tư năm 2005 và Luật Đầu tư năm 2014 nhằm thiết lập hành lang an toàn pháp lý cho nhà đầu tư (NĐT) và thu hút nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội. Quyền sở hữu đối với vốn, tài sản và kết quả đầu tư của NĐT được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 và các văn bản luật chuyên ngành. Dự án đầu tư (DAĐT) là sản phẩm, kết quả hình thành từ hoạt động bỏ vốn của NĐT, do đó NĐT có quyền sở hữu và quyền định đoạt đối với DAĐT.

Tuy nhiên, các đạo luật đầu tư trước đây bộc lộ nhiều điểm nghẽn về mặt pháp lý. Luật Đầu tư năm 2005 từng đồng nhất CNDAĐT với hoạt động chuyển nhượng vốn của doanh nghiệp sở hữu DAĐT. Các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ CNDAĐT giữa Luật Đầu tư và các luật chuyên ngành (đất đai, kinh doanh bất động sản, khoáng sản, thuế) thiếu tính đồng bộ, mâu thuẫn về điều kiện, hình thức, trình tự và thủ tục thực hiện. Về mặt lý luận, khoa học pháp lý tại Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về bản chất pháp lý của DAĐT và CNDAĐT dưới góc độ quyền tài sản. Thực trạng NĐT gặp khó khăn tài chính nhưng không thể chuyển nhượng DAĐT do rào cản thủ tục đã dẫn đến tình trạng nhiều dự án bị đình trệ, chậm tiến độ, gây lãng phí nguồn lực xã hội.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ các vấn đề lý luận về DAĐT, CNDAĐT và pháp luật về CNDAĐT; phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật về CNDAĐT trên cả phương diện xây dựng quy phạm và tổ chức thực hiện tại Việt Nam.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ một số vấn đề lý luận về DAĐT, CNDAĐT và pháp luật về CNDAĐT theo hướng bảo đảm quyền sở hữu, quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh và lợi ích hợp pháp của NĐT cùng các chủ thể liên quan.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về CNDAĐT tại Việt Nam thông qua so sánh quy định giữa Luật Đầu tư với các luật chuyên ngành qua các thời kỳ, chỉ ra hạn chế, bất cập và nguyên nhân.
  3. Đề xuất phương hướng và các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về CNDAĐT trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật về CNDAĐT và thực tiễn thực hiện CNDAĐT tại Việt Nam.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Quy định pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về CNDAĐT tại Việt Nam từ thời điểm áp dụng Luật Đầu tư năm 2005 đến Luật Đầu tư năm 2014.
  • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu CNDAĐT theo hình thức hợp đồng đối với các DAĐT có mục đích kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo Luật Đầu tư (bao gồm chủ thể, đối tượng, điều kiện, quyền và nghĩa vụ các bên, hợp đồng CNDAĐT, trình tự, thủ tục hành chính).
  • Phạm vi loại trừ: Luận án không nghiên cứu các khía cạnh kinh tế, tài chính, kỹ thuật thuần túy; không nghiên cứu DAĐT công, DAĐT theo hình thức đối tác công tư (PPP), hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC); không nghiên cứu hoạt động mua bán sáp nhập doanh nghiệp (M&A), chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng tài sản thông thường, CNDAĐT bắt buộc theo quyết định hành chính hoặc nhận thừa kế dự án đầu tư.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trong nước

Tác giả phân loại và điểm luận 5 nhóm công trình nghiên cứu liên quan tại Việt Nam:

  1. Nhóm nghiên cứu về CNDAĐT và pháp luật CNDAĐT: Tiêu biểu có bài viết của Nguyễn Thị Kiều Oanh (2014) trên Tạp chí Khoa học pháp lý và nghiên cứu của Phan Thông Anh, Nguyễn Ngọc Biện Thùy Hương (2017) trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật. Các nghiên cứu này chỉ giới hạn ở phạm vi chuyển nhượng dự án bất động sản theo Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006 và năm 2014, chưa làm rõ bản chất pháp lý của DAĐT nói chung và hợp đồng CNDAĐT.
  2. Nhóm nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm, phân loại DAĐT: Bao gồm các giáo trình, sách chuyên khảo của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân do Nguyễn Bạch Nguyệt (2013), Từ Quang Phương và Phạm Văn Hùng (2013), Từ Quang Phương (2001, 2012), Nguyễn Văn Phúc (2008), Tô Xuân Dân, Nguyễn Thị Hường, Nguyễn Thường Lạng (1998) chủ biên; các công trình của Thái Bá Cẩn (2013), Bùi Thế Vĩnh và Trần Thế Nhuận (1996), Nguyễn Xuân Thủy (1995), Đinh Thế Hiển (2002); Đề tài cấp Bộ do Lê Hồng Hạnh chủ nhiệm (2012). Các công trình này tiếp cận DAĐT thuần túy dưới góc độ kinh tế học, quản trị kinh doanh hoặc bảo vệ môi trường, chưa tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý.
  3. Nhóm nghiên cứu về Luật Đầu tư, điều kiện kinh doanh và quản lý nhà nước: Luận án tiến sĩ của Đỗ Nhất Hoàng (2002); công trình của Vụ Pháp chế - Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2003); các nghiên cứu rà soát cam kết WTO, EVFTA, TPP của Nguyễn Thị Thu Trang (2017); Báo cáo "Việt Nam 2035" của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ngân hàng Thế giới (2016); Báo cáo phát triển Việt Nam 2010 của các nhà tài trợ quốc tế; Sách trắng của EuroCham; Báo cáo về điều kiện kinh doanh của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM, 2017) và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI, 2017). Các tài liệu này tập trung vào chính sách thu hút đầu tư, bảo hộ NĐT và cải cách thể chế chung.
  4. Nhóm nghiên cứu về quyền tự do kinh doanh, tự do hợp đồng và luật hợp đồng: Giáo trình của Ngô Huy Cương (2013); các công trình của Bùi Ngọc Cường (2004), Nguyễn Thị Dung (2008), Nguyễn Ngọc Điện (2001), Đỗ Văn Đại (2012, 2014), Phí Thị Quỳnh Nga (2007), Ngô Quốc Chiến (2013). Các nghiên cứu đã phân tích nền tảng tự do ý chí và giao kết hợp đồng nhưng chưa đi sâu vào giao dịch CNDAĐT.
  5. Nhóm nghiên cứu về quyền sở hữu và quyền tài sản: Các công trình của Lê Thị Châu (1997, 2001), Nguyễn Thường Lạng (2005), Hà Thị Mai Hiên (2010, 2012), Nguyễn Văn Thạo và Nguyễn Hữu Đạt (2004), Trần Minh Trọng (2005), Phạm Thị Phượng (2004), Hoàng Ngọc Thỉnh (2001), Đỗ Hữu Kha (2007) và luận án của Nguyễn Thị Hồng Nhung (2012). Các tác giả tập trung vào lý luận quyền sở hữu tài sản truyền thống hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chưa xem xét DAĐT như một tổ hợp tài sản đa dạng, phức tạp.

Các hướng nghiên cứu quốc tế

Tác giả khảo sát các nguồn tư liệu quốc tế:

  • Tài liệu về đầu tư quốc tế: Các báo cáo của UNCTAD như "International Investment Agreements: Key Issues" (2004), Investment Policy Monitor, Investment Policy Review và World Investment Report (2017, 2018). Khảo sát cho thấy có 108 quốc gia có luật đầu tư riêng và 40 quốc gia có luật điều chỉnh trực tiếp, chia làm 3 nhóm: điều chỉnh toàn diện (Canada, Đức, Việt Nam, Philippines); khuyến khích và bảo hộ (Hàn Quốc, Malaysia, Pakistan, Mexico); không có đạo luật riêng (Vương quốc Anh, Thái Lan). Báo cáo năm 2014 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư chỉ ra rất ít nước áp dụng cơ chế cấp phép đầu tư như Việt Nam (ngoại trừ Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Philippines).
  • Tài liệu về hợp đồng và quyền sở hữu: Bộ nguyên tắc châu Âu về hợp đồng của G. Rouhette (2003); Bình luận Bộ luật Dân sự Nhật Bản của Xaca Vacaxum và Tori Aritdumi (1995); các giáo trình và chuyên khảo của Christian (1993), John D. Perillo (1987), Corinne Renault-Brahinsky (2002), F. Buckley (1999), Bộ nguyên tắc UNIDROIT (2004), Robert M. Abbey và Mark B. Richards (1995), Bridget Walker (1995), James Gordley và Arthur Taylor Von Mehren (2009).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Luận án định vị là công trình đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về CNDAĐT dưới góc độ luật học. Luận án giải quyết khoảng trống lý luận về bản chất pháp lý của DAĐT và CNDAĐT; làm rõ cơ chế chuyển dịch quyền sở hữu tài sản dự án; chỉ ra các điểm xung đột giữa Luật Đầu tư và luật chuyên ngành; đồng thời đề xuất khung giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và trình tự thủ tục hành chính tại Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án vận dụng các nền tảng lý thuyết và quan điểm định hướng:

  • Học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật;
  • Quan điểm của Đảng trong Văn kiện Đại hội XI, XII, Cương lĩnh năm 2011, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và cải cách tư pháp;
  • Học thuyết pháp luật tự nhiên, quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu và quyền tự do hợp đồng của công dân và NĐT được hiến định;
  • Học thuyết về trật tự công, xác lập giới hạn quản lý nhà nước nhằm bảo vệ lợi ích công cộng và an ninh quốc gia mà không xâm phạm quyền tự do hợp đồng hợp pháp;
  • Lý thuyết nhà nước kiến tạo phát triển và trách nhiệm giải trình: NĐT được làm những gì pháp luật không cấm, cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép;
  • Quan điểm hội nhập kinh tế quốc tế và hài hòa hóa pháp luật nội địa với các cam kết quốc tế.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Luận án đặt ra 6 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Bản chất pháp lý của DAĐT và CNDAĐT là gì? Làm thế nào để DAĐT được chuyển nhượng nhanh chóng, thuận lợi, tiết kiệm và hiệu quả?
  2. Những yếu tố nào ảnh hưởng đến pháp luật về CNDAĐT? Khái niệm, đặc điểm, vai trò, cơ chế điều chỉnh và nội dung cơ bản của pháp luật về CNDAĐT là gì?
  3. Các điều kiện để được tham gia giao dịch CNDAĐT, hợp đồng CNDAĐT, quyền, nghĩa vụ của các bên trong giao dịch CNDAĐT là gì?
  4. Thực trạng quy định của pháp luật, thực tiễn thực hiện pháp luật về CNDAĐT và việc CNDAĐT ở Việt Nam hiện nay như thế nào?
  5. Nhà nước có cần phải quản lý, kiểm soát việc CNDAĐT không và việc quản lý được thực hiện như thế nào?
  6. Các kiến nghị, giải pháp đồng bộ để xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về CNDAĐT, bảo đảm quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu, quyền tài sản, phù hợp với nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế của Việt Nam?

Luận án xây dựng 4 giả thuyết nghiên cứu:

  • DAĐT là tài sản thuộc quyền sở hữu của NĐT, NĐT có quyền CNDAĐT; nhưng do tính chất phức tạp, DAĐT cần sự quản lý và kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước bằng các tiêu chuẩn, thủ tục luật định.
  • CNDAĐT là hành vi pháp lý nhằm dịch chuyển quyền sở hữu DAĐT thông qua giao dịch, hợp đồng.
  • Nhận thức pháp lý về bản chất DAĐT chưa đầy đủ dẫn đến quy định pháp luật còn mâu thuẫn, chồng chéo giữa Luật Đầu tư và luật chuyên ngành.
  • Cần có giải pháp tổng thể, đồng bộ để sửa đổi quy phạm pháp luật và cải cách thủ tục thực thi phù hợp với thực tiễn Việt Nam và thông lệ quốc tế.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính đặc thù của khoa học pháp lý kết hợp với các phương pháp khoa học xã hội chung:

  • Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật và luật học so sánh: Dùng để phân tích các điều luật trong Luật Đầu tư năm 2005, Luật Đầu tư năm 2014, Luật Đất đai năm 2013, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, Luật Khoáng sản năm 2010, các luật thuế và pháp luật của Yemen, Lithuania.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa: Sử dụng xuyên suốt các chương để xây dựng khái niệm, đặc điểm, phân loại DAĐT, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp.
  • Phương pháp lịch sử: Phân tích tiến trình phát triển của chính sách và pháp luật đầu tư tại Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2019.
  • Phương pháp thống kê, mô tả: Tổng hợp các báo cáo thực tiễn, văn bản hướng dẫn thi hành và dữ liệu thực tế về hoạt động CNDAĐT.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Nguồn tư liệu bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam (Hiến pháp, luật, nghị định, thông tư), các điều ước quốc tế, văn bản luật nước ngoài, cùng các báo cáo chuyên đề của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, CIEM, VCCI, Ngân hàng Thế giới và UNCTAD.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Chương này tổng kết toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài. Tác giả phân tích những kết quả đã đạt được của các học giả đi trước về lý luận hợp đồng, quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh và pháp luật đầu tư. Đồng thời, chương 1 chỉ rõ các hạn chế của tài liệu hiện có khi chưa đi sâu giải quyết bản chất pháp lý của DAĐT và giao dịch CNDAĐT theo Luật Đầu tư, từ đó xác lập tính cấp thiết, khung lý thuyết, câu hỏi và phương pháp nghiên cứu của luận án.

Chương 2: Một số vấn đề lý luận về chuyển nhượng dự án đầu tư và pháp luật về chuyển nhượng dự án đầu tư

Chương 2 làm rõ các khái niệm và bản chất pháp lý nền tảng:

  • Khái niệm và bản chất DAĐT: Tiếp cận dưới các góc độ kinh tế, quản lý, nội dung và hình thức; tham chiếu luật của Yemen (2002) và Lithuania (1999/2004). Theo nghĩa hẹp dưới góc độ pháp lý, DAĐT là tài sản của NĐT được hình thành từ hoạt động đầu tư kinh doanh, gồm nhiều loại tài sản, quyền tài sản, quyền và nghĩa vụ đan xen không tách rời.
  • Quan niệm về tài sản: Kế thừa quan điểm của Ngô Huy Cương, Hà Thị Mai Hiên, Phạm Duy Nghĩa, Xaca Vacaxum và Tori Aritdumi, Nguyễn Huy Anh; đồng thời cập nhật xu hướng tài sản số, blockchain (Diễn đàn Kinh tế Thế giới dự báo 10% GDP toàn cầu lưu trữ qua blockchain vào năm 2027).
  • Cấu thành giá trị DAĐT: Luận án tổng hợp giá trị DAĐT qua 5 nhóm yếu tố:
Nhóm yếu tố cấu thành Nội dung cụ thể trong dự án đầu tư
1. Tài sản hữu hình (vật) Công trình xây dựng, nhà xưởng, máy móc, trang thiết bị (đã hình thành hoặc hình thành trong tương lai; phải đăng ký hoặc không phải đăng ký quyền sở hữu).
2. Tài sản vô hình Quyền sử dụng đất, đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, tiền, giấy tờ có giá, tài sản số.
3. Ý tưởng và lợi thế Ý tưởng đầu tư, dữ liệu thông tin mã hóa điện tử, lợi thế thương mại, giá trị thương hiệu.
4. Quyền tài sản với bên thứ ba Quyền đòi nợ, quyền yêu cầu bên thứ ba thực hiện hoặc không thực hiện nghĩa vụ.
5. Nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý Nghĩa vụ nộp thuế với Nhà nước, nghĩa vụ trả nợ ngân hàng, cam kết với khách hàng và nhà thầu.
  • Đặc điểm của DAĐT: Gồm 6 đặc điểm: (1) Có mục tiêu, kết quả xác định; (2) Có chu kỳ phát triển riêng và thời gian tồn tại hữu hạn; (3) Mang tính cá biệt, độc đáo, không trùng lặp; (4) Liên quan nhiều bên, tương tác phức tạp; (5) Có nguồn lực xác định về vật chất, tài chính, con người; (6) Có tính phức tạp, bất định và độ rủi ro cao.
  • Phân loại DAĐT: Phân chia theo bản chất đối tượng đầu tư, yếu tố tài sản, quy mô (nhóm A, B, C), ngành kinh tế, nguồn vốn, mục tiêu (kinh doanh, công, phi lợi nhuận), địa bàn, tư cách NĐT, ưu đãi đầu tư và điều kiện đầu tư.
  • Khái niệm CNDAĐT: Tham chiếu Từ điển Tiếng Việt và Black's Law Dictionary, luận án định nghĩa CNDAĐT là sự chuyển dịch quyền sở hữu DAĐT từ NĐT này sang NĐT khác do các NĐT thực hiện theo trình tự, thủ tục do luật định và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.
  • Lý luận về pháp luật CNDAĐT: Xác định khái niệm, vai trò, nguyên tắc điều chỉnh, các học thuyết chi phối (pháp luật tự nhiên, trật tự công, nhà nước kiến tạo) và nội dung pháp luật điều chỉnh điều kiện, hợp đồng, quyền và nghĩa vụ các bên cùng thủ tục CNDAĐT.

Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về chuyển nhượng dự án đầu tư ở Việt Nam

Chương 3 đi sâu rà soát quy định thực định và thực tiễn thi hành:

  • Thực trạng quy định pháp luật: Phân tích sự chuyển biến từ Luật Đầu tư năm 2005 (Nghị định 108/2006/NĐ-CP) đến Luật Đầu tư năm 2014 (Nghị định 118/2015/NĐ-CP).
  • Mâu thuẫn, chồng chéo giữa Luật Đầu tư và luật chuyên ngành:
    • Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 và Nghị định 76/2015/NĐ-CP: Đưa ra các điều kiện khắt khe về giải phóng mặt bằng, hoàn thành nghĩa vụ tài chính đất đai và thẩm quyền phê duyệt của UBND cấp tỉnh/Thủ tướng Chính phủ, tạo ra sự phân biệt đối xử và xung đột với quy trình điều chỉnh dự án theo Luật Đầu tư.
    • Luật Đất đai năm 2013, Nghị định 43/2014/NĐ-CP, Nghị định 01/2017/NĐ-CP: Bất cập về thời điểm chuyển giao quyền sử dụng đất, điều kiện hoàn thành nghĩa vụ tài chính trước khi chuyển nhượng và thủ tục đăng ký biến động đất đai.
    • Luật Khoáng sản năm 2010 và Nghị định 158/2016/NĐ-CP: Vướng mắc giữa thủ tục chuyển nhượng quyền khai thác khoáng sản và thủ tục CNDAĐT khai thác khoáng sản.
    • Pháp luật Thuế (Luật Thuế GTGT, TNDN, TNCN và các Nghị định 209/2013/NĐ-CP, 218/2013/NĐ-CP, 65/2013/NĐ-CP, Thông tư 219/2013/TT-BTC, 78/2014/TT-BTC, 96/2015/TT-BTC, 111/2013/TT-BTC): Chưa phân định rõ thu nhập chịu thuế và cách tính thuế giữa chuyển nhượng tài sản dự án, chuyển nhượng quyền sử dụng đất và chuyển nhượng vốn.
  • Thực tiễn thực hiện: NĐT gặp nhiều trở ngại về thời gian giải quyết hồ sơ do thủ tục hành chính phân tán ở nhiều sở, ngành; dẫn đến xu hướng NĐT lựa chọn phương thức chuyển nhượng 100% phần vốn góp hoặc cổ phần trong doanh nghiệp sở hữu dự án để né tránh thủ tục chấp thuận CNDAĐT.

Chương 4: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về chuyển nhượng dự án đầu tư ở Việt Nam

Chương 4 đề xuất hệ thống giải pháp:

  • Định hướng hoàn thiện: Thể chế hóa đường lối kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tôn trọng và bảo hộ quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu của NĐT; bảo đảm tính thống nhất giữa Luật Đầu tư và các luật chuyên ngành; chuyển phương thức quản lý nhà nước từ tiền kiểm sang hậu kiểm kết hợp quản lý rủi ro; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính.
  • Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật:
    • Sửa đổi Luật Đầu tư nhằm khẳng định rõ bản chất DAĐT là tài sản đặc thù và CNDAĐT là chuyển dịch quyền sở hữu;
    • Rà soát, bãi bỏ các điều kiện chuyển nhượng bất hợp lý trong Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Đất đai, Luật Khoáng sản;
    • Thống nhất cơ chế tính thuế đối với hoạt động CNDAĐT trong pháp luật thuế;
    • Hoàn thiện khung pháp lý về hợp đồng CNDAĐT trong mối quan hệ với Bộ luật Dân sự;
    • Chuẩn hóa trình tự, thủ tục điều chỉnh dự án đầu tư khi chuyển nhượng theo cơ chế "một cửa liên thông".
  • Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành: Nâng cao năng lực chuyên môn của cơ quan đăng ký đầu tư; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về DAĐT; tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thực hiện cam kết sau chuyển nhượng; thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp hợp đồng CNDAĐT hiệu quả.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định 4 đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:

  1. Về lý luận về DAĐT và CNDAĐT: Luận án đã xây dựng khái niệm, nội hàm, đặc điểm và xác định bản chất pháp lý của DAĐT là tài sản, quyền tài sản cùng các nghĩa vụ gắn liền. Luận án khẳng định CNDAĐT là hành vi pháp lý chuyển dịch quyền sở hữu toàn bộ tổ hợp tài sản, quyền tài sản và nghĩa vụ của NĐT đối với DAĐT sang NĐT khác.
  2. Về lý luận pháp luật CNDAĐT: Luận án luận giải có hệ thống khái niệm, đặc điểm, vai trò, nguyên tắc điều chỉnh, các học thuyết chi phối (pháp luật tự nhiên, trật tự công, nhà nước kiến tạo) và nội dung của pháp luật về CNDAĐT; chỉ rõ pháp luật CNDAĐT là pháp luật điều chỉnh việc chuyển dịch quyền sở hữu DAĐT.
  3. Về đánh giá thực trạng pháp luật: Luận án phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn thi hành; chỉ ra các nguyên nhân, hạn chế và xung đột quy phạm giữa Luật Đầu tư với Luật Đất đai, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Khoáng sản và pháp luật thuế.
  4. Về giải pháp và kiến nghị: Luận án cung cấp các luận cứ khoa học để đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường quản lý nhà nước hậu kiểm và bảo đảm quyền tự do kinh doanh, quyền tài sản của NĐT.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở các DAĐT có mục đích kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo Luật Đầu tư; không bao quát các DAĐT công hoặc DAĐT theo hình thức đối tác công tư (PPP).
  • Luận án không đi sâu phân tích các vấn đề kinh tế, tài chính, kỹ thuật định giá dự án hoặc nghiệp vụ thẩm định tài chính của doanh nghiệp.
  • Khung thời gian và dữ liệu pháp lý của luận án tập trung chủ yếu từ Luật Đầu tư năm 2005 đến Luật Đầu tư năm 2014 và các văn bản hướng dẫn tính đến năm 2019.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng nghiên cứu cơ chế pháp lý CNDAĐT đối với các dự án PPP và dự án sử dụng vốn nhà nước.
  • Nghiên cứu tác động của Luật Đầu tư năm 2020 và các luật sửa đổi, bổ sung sau năm 2019 đối với hoạt động CNDAĐT.
  • Nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế định giá tài sản dự án, giải quyết tranh chấp hợp đồng CNDAĐT tại Trọng tài thương mại và Tòa án.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước: Luận án cung cấp cơ sở khoa học cho Quốc hội, Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng trong việc rà soát, sửa đổi Luật Đầu tư và các luật chuyên ngành nhằm xóa bỏ chồng chéo, cải cách thủ tục hành chính về chuyển nhượng dự án.
  • Đối với cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu sau đại học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự về chế định quyền sở hữu tài sản đặc thù và pháp luật hợp đồng đầu tư kinh doanh.
  • Đối với NĐT, luật sư và tổ chức hành nghề luật: Các phân tích về cơ cấu hợp đồng, điều kiện chuyển nhượng và rủi ro pháp lý tại Chương 2 và Chương 3 hỗ trợ trực tiếp cho việc soạn thảo, đàm phán hợp đồng CNDAĐT và thực hiện thủ tục pháp lý trên thực tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa bản chất pháp lý của dự án đầu tư (DAĐT) và chuyển nhượng dự án đầu tư (CNDAĐT) như thế nào?

Theo luận án, dưới góc độ pháp lý, DAĐT là tài sản đặc thù của NĐT bao gồm tổng thể tài sản hữu hình, vô hình, quyền sở hữu trí tuệ, quyền tài sản và các nghĩa vụ liên quan đan xen nhau không tách rời. CNDAĐT là sự chuyển dịch quyền sở hữu DAĐT từ NĐT này sang NĐT khác do các NĐT thực hiện theo trình tự, thủ tục luật định và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.

2. Giá trị của một DAĐT được cấu thành từ những nhóm yếu tố tài sản nào?

Tác giả phân loại cấu thành giá trị DAĐT thành 5 nhóm: (1) Tài sản hữu hình (công trình xây dựng, máy móc, nhà xưởng); (2) Tài sản vô hình (quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, tiền, tài sản số); (3) Ý tưởng đầu tư, dữ liệu thông tin mã hóa, lợi thế thương mại, thương hiệu; (4) Quyền yêu cầu/đòi nợ đối với bên thứ ba; (5) Các nghĩa vụ tài chính và trách nhiệm pháp lý với Nhà nước và bên thứ ba.

3. Tại sao Luật Đầu tư năm 2005 từng đồng nhất CNDAĐT với chuyển nhượng vốn và luận án đánh giá vấn đề này ra sao?

Luật Đầu tư năm 2005 từng quy định CNDAĐT thực chất là chuyển nhượng vốn của doanh nghiệp sở hữu DAĐT. Luận án chỉ ra rằng quan niệm này không đúng bản chất pháp lý, bởi CNDAĐT là chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản và quyền thực hiện dự án cụ thể, trong khi chuyển nhượng vốn là chuyển nhượng quyền sở hữu phần vốn góp/cổ phần trong pháp nhân doanh nghiệp; doanh nghiệp có thể có nhiều dự án và việc chuyển nhượng một dự án không đồng nghĩa với chuyển nhượng toàn bộ doanh nghiệp.

4. Luận án chỉ ra những điểm mâu thuẫn chủ yếu nào giữa Luật Đầu tư và các luật chuyên ngành về CNDAĐT?

Luận án chỉ ra sự thiếu thống nhất giữa Luật Đầu tư với: (1) Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 về điều kiện giải phóng mặt bằng và thẩm quyền phê duyệt chuyển nhượng dự án bất động sản; (2) Luật Đất đai năm 2013 về điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nghĩa vụ tài chính trước khi chuyển nhượng; (3) Luật Khoáng sản năm 2010 về mối quan hệ giữa quyền khai thác khoáng sản và DAĐT; (4) Pháp luật về thuế trong việc phân loại thu nhập chịu thuế giữa chuyển nhượng tài sản dự án, chuyển quyền sử dụng đất và chuyển nhượng vốn.

5. Luận án loại trừ những trường hợp chuyển nhượng dự án nào khỏi phạm vi nghiên cứu?

Luận án không nghiên cứu: CNDAĐT công; DAĐT theo hình thức PPP; DAĐT theo hợp đồng BCC; hoạt động M&A doanh nghiệp; chuyển nhượng vốn; mua bán tài sản đơn thuần; các trường hợp CNDAĐT bắt buộc theo quyết định hành chính của cơ quan có thẩm quyền; và trường hợp nhận chuyển giao DAĐT do hưởng di sản thừa kế.


Kết luận

Luận án tiến sĩ luật học "Chuyển nhượng dự án đầu tư theo pháp luật Việt Nam" của tác giả Trương Thế Côn là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về cơ sở lý luận và thực tiễn thi hành pháp luật CNDAĐT tại Việt Nam từ năm 2005 đến năm 2019. Luận án đã làm rõ bản chất pháp lý của DAĐT là một tổ hợp tài sản đặc thù và CNDAĐT là quan hệ chuyển dịch quyền sở hữu tài sản của NĐT. Thông qua việc phân tích thực trạng mâu thuẫn giữa Luật Đầu tư và các luật chuyên ngành, tác giả đã cung cấp hệ thống giải pháp lập pháp và thực thi nhằm bảo đảm quyền tự do kinh doanh, bảo hộ quyền tài sản của NĐT và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường.