CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Phần này trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu quốc tế và Việt Nam liên quan đến Đề tài: “Pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số của công ty cổ phần ở Việt Nam: Nghiên cứu so sánh với Nhật Bản và Hoa Kỳ”, trong đó có sự hệ thống các công trình, bài nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đề tài hoặc liên quan đến vấn đề cần được phân tích lý giải, so sánh trong Luận án. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến Đề tài luận án 1. Tình hình nghiên cứu quốc tế Các nghiên cứu về lý luận và thực tiễn về quản trị công ty cũng như việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số của công ty bằng pháp luật luôn là chủ đề được các nhà khoa học trên thế giới rất quan tâm, các công trình nghiên cứu đã nhấn mạnh tới vai trò quan trọng của pháp luật trong việc bảo vệ cổ đông công ty. Về bảo vệ cổ đông thiểu số của công ty, các công trình khoa học từ lâu đã tập trung nghiên cứu các khía cạnh về sở hữu công ty, về cơ chế pháp luật trong việc bảo vệ cổ đông và vấn đề mối quan hệ giữa ủy thác của cổ đông với những người quản lý công ty.
Tác giả Adam Smith trong tác phẩm An inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations (1776) đã trình bày nghiên cứu của Ông về vấn đề phân tách giữa quyền sở hữu và quản lý điều hành công ty – một vấn đề mang đặc tính khách quan. Theo Nhà kinh tế học Adam Smith, việc phân tách là tất yếu vì cổ đông – chủ sở hữu công ty ngày càng phát triển trở nên quá đông đảo, họ không đủ điều kiện cần thiết đề trực tiếp quản lý điều hành công ty mà cần có những người quản lý chuyên nghiệp. Vấn đề lợi ích của cổ đông và những người quản lý lại có nhiều khác biệt, cụ thể, lợi ích và hiệu quả của công ty đặt ra đối với chủ sở hữu – cổ đông là ưu tiên hàng đầu, tuy nhiên người quản lý khó có thể chu toàn, cẩn trọng cho việc quản lý điều hành công ty giống như chủ sở hữu - cổ đông, mặc dù họ có trách nhiệm được giao là phải hành động vì lợi ích của cổ đông công ty. Pháp luật của các nước theo hệ thống án lệ dựa vào thuyết đại diện để xác định quyền và nghĩa vụ của người quản lý đối với công ty và cổ đông [74].
Sự tách bạch giữa quyền sở hữu của cổ đông và việc quản lý, điều hành công ty do thành viên HĐQT, giám đốc và những người đại diện khác thực hiện là một vấn đề trọng tâm, vấn đề mang tính nguyên tắc của quản trị công ty. 4 Theo quan điểm của Lý thuyết đại diện (Theory Agency), cho rằng, cả cổ đông và người quản lý đều mong muốn tối đa hóa lợi ích của mình, nhưng người quản lý không phải lúc nào cũng luôn hành động vì lợi ích tốt nhất của cổ đông – chủ sở hữu công ty. Vấn đề đặt ra là, cần có sự giám sát bằng quy tắc và chuẩn mực quản trị công ty đối với những người đại diện để họ làm tròn nghĩa vụ được cổ đông ủy thác. Nghiên cứu của nhóm bốn giáo sư về luật, kinh tế và tài chính nổi tiếng ở Châu Âu, Bắc Mỹ đứng đầu là giáo sư Rafael La Porta cùng với Lopez-de-Silanos, Andrei Shleifer và Robert Vishny [105] với những công bố từ thế kỷ XX.
Công bố của nhóm bộ tứ về kết quả khảo sát sự vận dụng cơ chế quản trị có sự phân tách sở hữu và quản lý công ty trong các hệ thống pháp luật của nhiều nước. Công bố cho rằng, có sự vận hành phổ biến hai hệ thống: sở hữu quản lý tập trung ở các nước thuộc hệ thống civil law; còn sở hữu, quản lý phân tán tồn tại ở các nước theo hệ thống án lệ (Common law) và có sự phân tách rõ ràng quyền sở hữu và quyền quản lý – cũng là nơi các cổ đông thiểu số được bảo vệ tốt hơn tại cá nước thuộc Civil law. Trong những năm 2000, một số cuốn sách, công trình nghiên cứu tại Mỹ, Anh có nội dung liên quan đến đề tài so sánh pháp luật bảo vệ cổ đông, cổ đông thiểu số, trước tiên phải kể tới: “Bản chất của Luật công ty: Nghiên cứu so sánh và tiếp cận theo chức năng” (The Anatomy of Corporate Law: A Comparative and Functional Approach) do Rainier R. Kraakman chủ biên, NXB Oxford, 2004; Nội dung gồm nghiên cứu, so sánh theo chức năng của luật công ty; giới thiệu, đối chiếu về sự giống nhau và một số khác biệt cơ bản của hệ thống pháp luật công ty tại Hoa Kỳ, Nhật Bản, Vương Quốc Anh; so sánh chế định bảo vệ nhà đầu tư, cổ đông công ty tại các nước đã phát triển.
Các nghiên cứu tại Mỹ về trách nhiệm người quản lý công ty (theo pháp luật của Mỹ - Đạo luật Revised Model Business Corporation Act – RMBCA) cho rằng: người quản lý công ty (thành viên HĐQT, GĐ) khi làm việc phải chu toàn hai nghĩa vụ cơ bản: Cẩn trọng và trung thành - “fiduciary duty”, tức là phải có một lòng thành, tin tưởng, giữ bí mật và trung thực của một người có nghĩa vụ (như Luật sư, nhân viên của công ty) đối với với người hưởng lợi (như thân chủ của luật sư, công ty) phải hành động với sự trung thành và liêm khiết cao độ nhất. Người quản lý khi vi phạm 5 hai nghĩa vụ cơ bản: Cẩn trọng và trung thành “fiduciary duty” nói chung phải bồi thường thiệt hại [95; 105]. Người được hưởng lợi thường không phải là cổ đông hay nhóm cổ đông đi kiện mà là công ty. Năm 2010, Nhà xuất bản Ðại học Cambridge phát hành công trình nghiên cứu có tính toàn diện ở phạm vi các công ty ở châu Âu: “Phương thức bảo vệ nhà đầu tư: Bài học của EC và UK” của Niamh Molony (How to Protect Investors: Lessons from the EC and the UK - Cambridge University Press, 2010); Nội dung chính gồm: Khái niệm nhà đầu tư cá nhân, pháp luật và chính sách bảo vệ nhà đầu tư; không gian, phạm vi áp dụng pháp luật trên lý thuyết và thực tế qua ví dụ tại nước Anh; nghiên cứu việc bảo vệ nhà đầu tư nhỏ, lẻ qua lăng kính của EC; đặc điểm chế độ bảo vệ nhà đầu tư nhỏ, lẻ; chế độ minh bạch thông tin giao dịch về thị trường chứng khoán và việc giám sát, thực thi cơ chế bảo vệ nhà đầu tư nhỏ, lẻ.
Tại Nhật Bản, năm 2002, Đại học Nagoya xuất bản cuốn sách: “Hướng tới một thị trường chứng khoán hoạt động tốt ở Việt Nam” của tác giả Nguyen Thi Anh Van (Toward A well Functioning Securities Market in Vietnam, CALE, Nagoya University, Japan, 2002). Nội dung có đề xuất một số giải pháp về hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển thị trường chứng khoán, trong đó có giải pháp minh bạch thông tin về giao dịch cổ phiếu của cổ đông, có cơ chế tạo thuận lợi cho nhà đầu tư tham gia giám sát hoạt động của công ty. Tuy nhiên cũng chưa có giải pháp hoặc cơ chế cụ thể về bảo vệ cổ đông thiểu số ở Việt Nam. Bài nghiên cứu về quyền của cổ đông theo pháp luật Nhật Bản: “Sự tiếp cận của cổ đông đối với thông tin của công ty: Nhằm hướng tới bảo đảm quyền kiểm soát của cổ đông và bảo vệ các quyền này của cổ đông thiểu số” của Junko Ueda.
Tạp chí Sở hữu và kiểm soát công ty tập 6 Số 4/2009 (Shareholders’ access to company’s information: towards ensuring shareholders’mornitoring right and minority shareholders’ protection, Journal of Corporate ownership and Control - Ucraina/Volume, Issue 4/2009). Nội dung bài báo nghiên cứu đánh giá lại các phương thức bảo đảm của Luật công ty Nhật Bản đối với quyền của cổ đông thiểu số tiếp cận thông tin công ty và thực hiện những quyền cơ bản này (chẳng hạn triệu tập người đại diện, khởi kiện những người quản lý…”. Đặc biệt trong quá trình hợp nhất và sáp nhập công ty. Bài báo có bốn nội dung chính: thứ nhất, đánh giá tổng quát cấu trúc về quyền 6 kiểm kiểm soát của cổ đông trong pháp luật công ty Nhật Bản so với các quy định có từ trước trong lịch sử.
Thứ hai, tập trung xem xét quyền tiếp cận đối với thông tin của công ty và ý nghĩa, so sánh với các quyền khác của cổ đông. Thứ ba, phân tích đánh giá các vụ án điển hình tại tòa án Nhật Bản liên quan đến quyền giám sát của cổ đông. Thứ tư, khảo sát quyền của cổ đông về tiếp cận thông tin của công ty, mối quan hệ với quyền yêu cầu tòa án chỉ định thanh tra viên tiến hành điều tra hoạt động kinh doanh và điều kiện tài chính công ty theo Luật công ty Nhật Bản. Thứ năm, đề xuất mô hình, vai trò kiểm soát của cổ đông thông qua cơ chế pháp luật công ty nhằm hướng tới một hệ thống quản trị công ty hiệu quả.
Sách “Kiểm soát quản trị” của Bob Tricker do NXB Thời đại, ấn hành bản dịch tại Việt Nam 2012 (Corporate Governace: Principles, policies and practices, first edition - Oxford University press 2009). Bố cục của công trình bao gồm các nội dung giới thiệu khái quát về quản trị công ty và 3 vấn đề chủ yếu: Về các nguyên tắc quản trị công ty, các chính sách quản trị và các tình huống thông lệ về quản trị công ty. Cuốn sách cũng đi sâu giới thiệu về nguyên tắc quản trị công ty, về nguồn gốc lịch sử trong thời gian hoặc 40 năm (từ năm năm 1980 tác giả đã công bố giới thiệu những nghiên cứu đầu tiên về quản trị công ty). Về nguyên tắc quản trị công ty: Sách mô tả về sự cần thiết và phân biệt giữa quản trị công ty và điều hành công ty, đồng thời giới thiệu cấu trúc HĐQT, thành viên của HĐQT, chức năng và cấu trúc quản trị của những công ty lớn phức tạp có hình thức quản lý hình thức đa dạng về các chính sách quản trị công ty, tác giả cho rằng các quy tắc quản trị công ty ở các nước dựa trên sự kết hợp giữa luật pháp và các quy định về công ty (lưu giữ hồ sơ, công bố thông tin, chuẩn mực kiểm toán), cùng với các quy định của các Sở giao dịch chứng khoán áp dụng đối với các công ty niêm yết.
Ví dụ, tại Mỹ công ty phải tuân thủ đạo luật công ty của tiểu bang và các quy định của ủy ban Chứng khoán liên bang Hoa kỳ (SEC) bên cạnh đó công ty cũng phải tuân theo các chuẩn mực kế toán của Mỹ (GAAP).