đặt vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, nội dung, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Chương 2 – Cơ sở lý thuyết Nghiên cứu xây dựng phần này với mục đích giới thiệu các đối tương liên quan, 5 như NĐT NN, hiệu quả phản ánh thông tin giá chứng khoán và các nghiên cứu thực nghiệm trước đây trên thế giới về chủ đề này. Chương 3 – Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu xây dựng phần này bao gồm các nội dung như: giải thuyết nghiên cứu, mô hình, các biến trong mô hình, nguồn dữ liệu cho nghiên cứu cũng như cách tính toán các biến cho mô hình. Chương 4 – Kết quả nghiên cứu Nghiên cứu trình bày các kết quả từ việc thống kê mô tả, phân tích tương quan các biến nhằm có cái nhìn tổng quan về bộ dữ liệu nghiên cứu.
Kết quả hồi quy với 2 phương pháp: hồi quy dữ liệu bảng và phân tích hồi quy về mối quan hệ nhân quả ngược cũng được trình bày. Chương 5 – Kết luận Phần này nghiên cứu tóm tắt kết quả nghiên cứu. Cuối cùng, những hạn chế của đề tài và những hướng mở rộng nghiên cứu tiếp theo cũng được trình bày. 6 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong phần này, nghiên cứu sẽ trình bày các khái niệm cơ bản về NĐT NN.
Các lý thuyết liên quan đến hiệu quả thông tin giá chứng khoán bao gồm các lý thuyết về thị trường hiệu quả, lý thuyết bước đi ngẫu nhiên. Dựa trên hàm ý của 2 lý thuyết này, cách thức định lượng hiệu quả thông tin giá chứng khoán cũng được xác định. Tiếp theo nghiên cứu sẽ phân tích ảnh hưởng của tỷ lệ sở hữu nhà đầu tư nước ngoài đến hiệu quả thông tin giá chứng khoán. Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây trên thế giới cũng được trình bày, từ đó nghiên cứu rút ra mô hình phù hợp cho Việt Nam.
Nhà đầu tƣ nƣớc ngoài Đầu tiên, nghiên cứu muốn làm rõ đối tượng NĐT NN trong nghiên cứu này. Căn cứ theo quyết định số 121/2008/QĐ-BTC của Bộ tài chính về việc ban hành Quy chế hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam, đối tượng NĐT NN trên TTCK Việt Nam bao gồm: a) Cá nhân là người có quốc tịch nước ngoài, cư trú tại nước ngoài hoặc tại Việt Nam, bao gồm cả người gốc Việt Nam có quốc tịch nước ngoài; b) Tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài và chi nhánh của tổ chức này, bao gồm cả chi nhánh hoạt động tại Việt Nam; c) Tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam có 100% vốn góp nước ngoài và các chi nhánh của tổ chức này; d) Quỹ đầu tư thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài và các quỹ đầu tư thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam có 100% vốn góp NN. Như vậy, các NĐT NN là các tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động đầu tư cổ phiếu trên TTCK Việt Nam. Trong đó, cũng căn cứ theo theo quyết định số 121/2008/QĐ-BTC của Bộ tài chính về việc ban hành Quy chế hoạt động của nhà 7 đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam, hoạt động đầu tư của NĐT NN thực hiện đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới các hình thức sau: a.
Trực tiếp thực hiện đầu tư thông qua việc: i. Mua, bán cổ phiếu, trái phiếu và các loại chứng khoán niêm yết khác trên Sở Giao dịch Chứng khoán, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán hoặc đăng ký giao dịch tại các công ty chứng khoán; ii. Mua, bán cổ phần và các loại chứng khoán chưa niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán hoặc chưa đăng ký giao dịch tại các công ty chứng khoán; iii. Tham gia đấu giá mua chứng khoán, đấu giá mua cổ phần tại các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa; iv.
Tham gia góp vốn thành lập quỹ đầu tư chứng khoán với tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài theo quy định của Thủ tướng Chính phủ; v. Tham gia góp vốn tại các doanh nghiệp Việt Nam với tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Thực hiện đầu tư thông qua việc uỷ thác quản lý vốn đầu tư cho công ty quản lý quỹ trên cơ sở Hợp đồng quản lý đầu tư ký với công ty quản lý quỹ. Trong nghiên cứu này, khi đề cập đến NĐT NN, nghiên cứu muốn đề cập đến sở hữu của NĐT nước ngoài.
Theo đó, Sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài đo lường bằng phần trăm của các cổ phiếu lưu hành được nắm giữ bởi các nhà đầu tư nước ngoài tại thời điểm cuối năm tài chính. Ngoài ra, Nghị định số 60/2015/NĐ-CP của Chính phủ nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán. Trong nhiều vấn đề được sở đổi, đáng lưu nhất là “Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, đã chính thức cho 8 phép tăng lên 100% thay vì 49% như trước đây. Hiệu quả thông tin giá chứng khoán Barnea (1974); Lo và Mackinlay (1988), Boehmer và Kelley (2009), Wen He và Jianfeng Shen (2014) đã lập luận rằng, nếu giá cả của cổ phiếu phản ánh một cách có hiệu quả với các thông tin, thì giá cả cổ phiếu phải tuân theo bước đi ngẫu nhiên và thị trường là hiệu quả.
Dó đó, trong phần này, nghiên cứu sẽ giới thiệu về 2 lý thuyết: (i) lý thuyết thị trường hiệu quả và (ii) lý thuyết bước đi ngẫu nhiên. Từ hàm ý của 2 lý thuyết này, phương pháp lượng hóa mức độ phản ánh hiệu quả với thông tin của giá chứng khoán được xây dựng. Khái niệm thông tin giá cổ phiếu và hiệu quả thông tin giá chứng khoán Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó. Khi cổ phiếu được đem giao dịch trên thị trường, cổ phiếu được mua bán theo giá thị trường.
Giá thị trường của cổ phiếu không phải do công ty ấn định và cũng không do người nào khác quyết định, mà giá thị trường của cổ phiếu được xác định bởi giá thống nhất mà người bán sẵn sàng bán nó và giá cao nhất mà người mua sẵn sàng trả để mua nó. Hay nói cách khác, giá thị trường của cổ phiếu được xác định bởi quan hệ cung - cầu trên thị trường. Giá trị thị trường cổ phiếu của một công ty phụ thuộc rất nhiều yếu tố, các yếu tố này hình thành nên các thông tin phản ánh giá cổ phiếu. Các yếu tố này có thể chia thành 3 nhóm yếu tố, đó là: các yếu tố kinh tế, các yếu tố phi kinh tế, và các yếu tố thị trường.
Nhóm yếu tố kinh tế bao gồm: tăng trưởng kinh tế, thu nhập công ty, cổ tức, lãi suất, giá cả hàng hoá (lạm phát) và các yếu tố kinh tế khác, có thể bao gồm số liệu về việc làm, những thay đổi về hàng tồn kho, và những biến động về lượng cung tiền. Nhóm yếu tố phi kinh tế, bao gồm thay đổi về các điều kiện chính trị, ví dụ chiến tranh hoặc thay đổi cơ cấu Chính phủ, thay đổi về thời tiết và những 9 nhân tố tự nhiên khác, và thay đổi về điều kiện văn hoá, như tiến bộ về công nghệ… Nhóm yếu tố thị trường: là những nhân tố bên trong của thị trường, bao gồm sự biến động thị trường và mối quan hệ cung cầu có thể được coi là nhóm yếu tố thứ ba tác động tới giá cổ phiếu. Sự biến động thị trường là một hiện tượng chờ đợi thái quá từ việc dự tính quá cao giá trị thực chất của cổ phiếu khi giá cổ phiếu cao nhờ sự phát đạt của công ty, và ngược lại do dự đoán thấp giá trị tại thời điểm thị trường đi xuống. Mối quan hệ giữa cung và cầu được trực tiếp phản ánh thông qua khối lượng giao dịch trên thị trường, hoạt động của những nhà đầu tư có tổ chức, giao dịch ký quỹ… cũng có ảnh hưởng đáng kể.
Các yếu tố thông tin này phản ánh vào giá cổ phiếu, và thị trường có phản ánh một các hiệu quả thông tin của cổ phiếu. Fama (1970) trong nghiên cứu của mình đã nêu ra, một TTCK được đánh giá là hiệu quả khi thông tin trên thị trường đó minh bạch và dòng chảy thông tin diễn ra liên tục đến các nhà đầu tư. Việc một nhà đầu tư nào đó sử dụng những nguồn thông tin nội bộ nào đó mà ít người biết đến để tận dụng thu lợi từ TTCK so với các nhà đầu tư khác là không có khả năng xảy ra, TTCK sẽ là một sân chơi công bằng cho các nhà đầu tư. Cũng theo Fama (1970) một thị trường hiệu quả về mặt thông tin khi giá cả của quyền sử dụng nguồn lực giao dịch trên thị trường phản ánh đầy đủ và tức thời các thông tin liên quan đến nguồn lực đó.
Thị trường chứng khoán hiệu quả về mặt thông tin khi giá chứng khoán phản ánh trung thực và đầy đủ các thông tin liên quan đến thị trường. Jensen (1978) đã định nghĩa một cách thực tế hơn về thị trường hiệu quả: “Một thị trường hiệu quả là thị trường mà trong đó thông tin được phản ánh trong mức giá cho tới khi lợi ích biên của giao dịch khi có thông tin đó (lợi suất kỳ vọng) không thể vượt quá chi phí biên của việc khai thác thông tin”. Phân loại thị trường hiệu quả Cũng theo Fama (1970), thị trường hiệu quả được chi thành các mức độ như sau: 10 Mức độ thứ nhất: Thị trƣờng hiệu quả dạng yếu (weak-form) Giá cả chứng khoán hiện tại là sự phản ánh mọi thông tin chứa đựng trong hồ sơ giá quá khứ, như tỷ suất sinh lợi chứng khoán, khối lượng giao dịch, các chuyển dịch, xu hướng, quy luật hiện tại của giá, hoặc các thông tin chung như mua bán lô lẻ, các thương vụ của các chuyên gia, các nhóm độc quyền. Vì nó giả định rằng mức giá thị trường hiện tại này đã phản ánh tất cả các thu thập trong quá khứ và mọi thông tin trên thị trường nên giả thuyết này có nghĩa là tỷ suất thu nhập trong quá khứ cũng như các thông tin khác không có mối liên hệ với tỷ suất thu nhập trong tương lai (các tỷ suất thu nhập độc lập với nhau).