Chương 1: Giới thiệu Chương này trình bày tóm lược về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn và đóng góp của đề tài nghiên cứu, kết cấu của bài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và nghiên cứu trước Nguyễn Như Ngọc - ME06 Trang 8 Đề tài: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến sự phát triển doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân trong nước. Trình bày khung lý thuyết cho đề tài nghiên cứu như: Trình bày các khái niệm Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân trong nước, trình bày cơ sở lý thuyết và sơ lược về một số nghiên cứu trước có liên quan. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu Trên cơ sở khung phân tích được xây dựng ở chương 2, chương này trình bày mô hình nghiên cứu, mô tả và đo lường các biến trong mô hình, nguồn dữ liệu nghiên cứu và các bước trong phương pháp nghiên cứu mô hình dữ liệu bảng.
Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Trình bày thực trạng về FDI và doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân trong nước giai đoạn 2008 - 2014 tại các địa phương ở Việt Nam. Phần kế tiếp nghiên cứu thực hiện ước lượng và phân tích mô hình nghiên cứu, so sánh kết quả đạt được với kết quả của các nghiên cứu trước, đưa ra kết luận chung về mô hình nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Chương này trình bày kết luận và kiến nghị từ kết quả hồi quy của mô hình nghiên cứu và cuối cùng là nêu ra hạn chế của bài nghiên cứu và đưa ra hướng nghiên cứu tiếp theo. Nguyễn Như Ngọc - ME06 Trang 9 Đề tài: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến sự phát triển doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân trong nước.
Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Đầu tư quốc tế Theo Lê Công Hướng (2014), quan hệ kinh tế quốc tế xuất hiện từ khi con người thực hiện hành vi trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia. Đầu tư quốc tế ra đời muộn hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác, từ khi xuất hiện lần đầu tiên trên thế giới vào khoảng cuối thế kỷ XIX đến nay, hoạt động đầu tư quốc tế đã có nhiểu biến đổi sâu sắc. Xu hướng chung là ngày càng tăng lên cả số lượng, quy mô, hình thức, thị trường, lĩnh vực đầu tư và vị trí, vai trò ngày càng to lớn trong các quan hệ kinh tế quốc tế.
Đầu tư quốc tế là một hình thức di chuyển quốc tế về vốn, trong đó vốn được di chuyển từ quốc gia này đến quốc gia khác để thực hiện một hoặc một số dự án đầu tư nhằm đem lại lợi ích cho các bên tham gia. Vốn đầu tư quốc tế có hai dòng chính: đầu tư của tư nhân và hỗ trợ phát triển chính thức của các Chính phủ, các tổ chức quốc tế. Đầu tư của tư nhân được thực hiện dưới 3 hình thức: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI); Đầu tư gián tiếp và tín dụng thương mại. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Hiện nay có rất nhiều khái niệm về Đầu tư trực tiếp nước ngoài đang được sử dụng, ở mục này nghiên cứu xin trình bày một số khái niệm như sau: Theo Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF, 1997), FDI nói đến số vốn ít nhất là 10% giá trị cổ phiếu thông thường hay sức nặng lá phiếu mà các nhà đầu tư không phải bản xứ có được trong một doanh nghiệp, đầu tư trực tiếp cũng liên quan tới sự quan tâm mang tính lâu dài đối với việc quản lý một doanh nghiệp và bao gồm cả tái đầu tư lợi nhuận (Agrawal và Khan, 2011).
Nguyễn Như Ngọc - ME06 Trang 10 Đề tài: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến sự phát triển doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân trong nước. Tổ chức thương mại thế giới (WTO, 1996) cho rằng FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ nhà) có tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.Trong phần lớn các trường hợp cả nhà đầu tư lẫn tài sản người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh.Trong những trường hợp đó nhà đầu tư được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi “công ty con” hay chi nhánh công ty. Theo Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD, 1996), một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp là một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân; trong đó nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu thường hoặc có quyền biểu quyết và điểm mấu chốt của đầu tư trực tiếp là chủ định kiểm soát công ty.
Theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (1987), đầu tư nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hay doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của luật này. Luật Đầu tư (2005), Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản khác để tiến hành đầu tư Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia hoạt động đầu tư. Theo Perkins (2010, trang 512-522), FDI là một hình thức đầu tư dài hạn trong đó một thực thể có yếu tố nước ngoài được tham gia chủ yếu trong khâu điều hành và quản lý một nhà máy ở nước chủ nhà. Về tìm kiếm và mở rộng thị trường, nhờ có các doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp bản địa sẽ có khả năng tiếp cận thị trường thế giới nhanh hơn khi trở thành mắc xích của một công ty đa quốc gia.
Về hiệu ứng lan tỏa (ngoại tác tích cực), các công ty đa quốc gia đầu tư vào nước chủ nhà sẽ đem nguồn sản phẩm, máy móc, quy trình sản xuất, nghiệp vụ marketing, quản lý chất lượng và tiến bộ trong quản lý vào nước chủ nhà thông qua các công ty thành viên của họ từ đó có thể giúp đỡ các công ty và xí nghiệp nội địa, thậm chí các công ty trong nước cạnh tranh Nguyễn Như Ngọc - ME06 Trang 11 Đề tài: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến sự phát triển doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân trong nước. với công ty đa quốc gia có thể quan sát và học hỏi công nghệ nước ngoài để làm tăng năng suất lao động. Các doanh nghiệp lựa chọn đầu tư ở nước ngoài thường là những doanh nghiệp có tính cạnh tranh cao hơn so với các doanh nghiệp thỏa mãn với lựa chọn chỉ hoạt động trên thị trường nội địa. Không phải doanh nghiệp nào cũng lựa chọn FDI bởi vì đầu tư nước ngoài tiềm ẩn những rủi ro do mức độ không chắc chắn khi hoạt động ở thị trường nước khác.
Tuy nhiên, rủi ro cao cũng đồng nghĩa với những hứa hẹn lợi ích mang lại lớn. Những doanh nghiệp nào có thể thành công với hoạt động đầu tư ra nước ngoài sẽ nhận được những phần thưởng to lớn cho hoạt động kinh doanh của mình. FDI giúp tăng cường các nguồn lực của một quốc gia cũng như nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong các quốc gia tiếp nhận đầu tư. Đóng góp của FDI đối với sự phát triển của những nước tiếp nhận đầu tư có thể được thực hiện qua một vài kênh như chuyển giao nguồn lực tài chính trực tiếp cho những nước tiếp nhận FDI, tác động tràn về công nghệ và quản lý đối với các doanh nghiệp nội địa của các nước chủ nhà, hoặc giúp đỡ các nước chủ nhà tham gia vào thương mại toàn cầu, vào các mạng lưới công nghệ và đầu tư của các Công ty đa quốc gia (Lee và Rugman, 2009).
Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài chọn định nghĩa FDI có các yếu tố sau: Nguồn vốn, tài sản đầu tư có nguồn gốc nước ngoài được cấp giấy phép hoạt động kinh doanh tại một hay nhiều địa phương ở Việt Nam; được thống kê trong báo cáo về FDI của Tổng cục Thống kê Việt Nam. Phân loại hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài Perkins (2010), FDI có nhiều hoạt động đầu tư khác nhau đôi khi khó có thể phân loại được, tuy vậy có ba lĩnh vực nổi bật: (1) Các hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên như dầu lửa, khoáng sản, sản xuất nông nghiệp… (2) Sản xuất công nghiệp và dịch vụ hướng tới thị trường nội địa của nước tiếp nhận đầu tư, bao gồm hàng hóa tiêu dùng, các sản phẩm sử dụng nhiều vốn như thép và Nguyễn Như Ngọc - ME06 Trang 12 Đề tài: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến sự phát triển doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân trong nước. hóa chất, dịch vụ vận tải, viễn thông, tài chính, điện lực, dịch vụ kinh doanh và mậu dịch bán lẻ. Ở nhiều nước các hoạt động này dược bảo hộ ít nhất là một phần khỏi đối thủ cạnh tranh là hàng nhập khẩu thông qua thuế quan và các biện pháp hạn chế khác.
(3) Sản xuất công nghiệp sử dụng nhiều lao động hướng về xuất khẩu ra thị trường thế giới, bao gồm hàng may mặc, điện tử, chế biến thực phẩm, giày da, dệt và đồ chơi. Các công ty tham gia hoạt động này thường kinh doanh khá hiệu quả và có khả năng cạnh tranh, tuy nhiên chúng có thể được di dời từ nước này sang nước khác một cách nhanh chóng để đáp ứng kịp những thay đổi về chi phí sản xuất hoặc sự bất ổn định chính trị hay kinh tế vĩ mô. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam: Theo Luật Đầu tư Việt Nam (2005), FDI được thực hiện dưới các hình thức sau: Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng là hình thức nhà đầu tư và nước nhận đầu tư sẽ tiến hành ký hợp đồng hợp tác kinh doanh như hợp tác sản xuất phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm. Trong hình thức đầu tư này nhà đầu tư nước ngoài có thể là người cung cấp phần lớn h0ặc toàn bộ vốn đầu tư.
Phía nhận đầu tư sẽ tham gia đóng góp về đất đai nhà xưởng hoặc cũng có thể tham gia góp một phần vốn.