Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ: "Chính sách quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam (qua nghiên cứu trường hợp thành phố Hải Phòng)" được thực hiện dưới góc độ chuyên ngành Khoa học Quản lý công.
Sau 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã chuyển đổi từ mô hình kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trước năm 1986, Nhà nước tuyệt đối hóa vai trò quản lý và trực tiếp làm kinh tế, can thiệp sâu bằng mệnh lệnh hành chính vi mô và loại bỏ kinh tế tư nhân. Kể từ Đại hội Đảng lần thứ VII (năm 1991), Nghị quyết Đại hội XII (năm 2016), Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII và Văn kiện Đại hội XIII (năm 2021), khu vực kinh tế tư nhân (KTTN) đã được xác định là một động lực quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, hệ thống chính sách quản lý nhà nước (QLNN) đối với doanh nghiệp khu vực KTTN vẫn bộc lộ nhiều bất cập: văn bản quy phạm pháp luật vừa thừa, vừa thiếu và chồng chéo; tồn tại sự thiếu bình đẳng giữa khu vực tư nhân và khu vực nhà nước; nhận thức của đội ngũ cán bộ cơ sở thực thi chính sách chưa đồng bộ; chính sách hỗ trợ còn mang tính hình thức, chưa đi vào thực chất. Những trở ngại này xuất hiện ở cả tầm vĩ mô và vi mô, từ Trung ương đến địa phương. Do đó, việc nghiên cứu hoàn thiện hệ thống chính sách QLNN đối với doanh nghiệp KTTN là yêu cầu cấp thiết về cả lý luận và thực tiễn.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là hệ thống hóa những vấn đề lý luận và phân tích thực trạng chính sách QLNN đối với doanh nghiệp khu vực KTTN, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN và thúc đẩy khu vực KTTN phát triển theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.
Để đạt được mục tiêu trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa, tổng hợp các công trình nghiên cứu đã công bố về chính sách QLNN đối với các doanh nghiệp khu vực KTTN, chỉ ra các giá trị lý luận, thực tiễn và khoảng trống nghiên cứu còn bỏ ngỏ.
- Xây dựng, hoàn thiện khung lý thuyết về chính sách QLNN đối với doanh nghiệp khu vực KTTN; khảo sát kinh nghiệm thực tiễn của một số quốc gia có tính tương đồng để rút ra bài học tham khảo cho Việt Nam.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng chính sách QLNN đối với các doanh nghiệp khu vực KTTN tại Việt Nam, minh chứng qua số liệu thực tế tại thành phố Hải Phòng; phân tích các hạn chế, bất cập và nguyên nhân trong quá trình thực thi chính sách.
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp hoàn thiện chính sách QLNN đối với các doanh nghiệp khu vực KTTN trên địa bàn thành phố Hải Phòng nói riêng và ở Việt Nam nói chung.
Giả thuyết khoa học và câu hỏi nghiên cứu
Giả thuyết khoa học của đề tài: Hệ thống chính sách QLNN hoàn thiện và phù hợp, việc thực thi chính sách đúng, trúng và đủ sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp khu vực KTTN phát triển; ngược lại, hệ thống chính sách thiếu đồng bộ, nhiều bất cập sẽ gây cản trở đến hoạt động và phát triển của khu vực này.
Luận án tập trung giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu chính:
- Doanh nghiệp khu vực KTTN với tư cách là động lực của kinh tế Việt Nam đặt ra những vấn đề lý luận nào cần được nhận thức và làm sáng tỏ? Các doanh nghiệp khu vực KTTN đang cần những chính sách gì để phát triển?
- Vai trò của chính sách QLNN đối với sự phát triển của các doanh nghiệp khu vực KTTN là gì? Quá trình hoàn thiện chính sách tại Việt Nam diễn ra như thế nào và những nhân tố cơ bản nào ảnh hưởng tới chính sách QLNN đối với khu vực này?
- Thực trạng chính sách QLNN đối với các doanh nghiệp khu vực KTTN trong thời gian vừa qua như thế nào? Những vấn đề tồn tại, bất cập và các thách thức đặt ra cần khắc phục là gì?
- Cần phải hoàn thiện, xây dựng và thực thi chính sách QLNN đối với các doanh nghiệp khu vực KTTN như thế nào nhằm phát triển khu vực này trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế theo tinh thần Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chính sách quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN.
- Phạm vi nội dung: Luận án tập trung vào các doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân trong nước (bao gồm doanh nghiệp quy mô lớn, vừa, nhỏ và siêu nhỏ); không nghiên cứu các doanh nghiệp thuộc khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Do doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chiếm khoảng 98% khu vực KTTN nên chính sách hỗ trợ DNNVV được xem là bộ phận chủ yếu. Luận án tiếp cận chính sách từ góc độ triển khai và kết quả thực hiện chính sách, không nghiên cứu quy trình hoạch định, ban hành hay kỹ thuật thẩm định chính sách. Nội dung chính sách tập trung vào 4 nhóm trọng tâm: (1) Chính sách tài chính - tín dụng, (2) Chính sách đất đai, (3) Chính sách khoa học công nghệ, (4) Chính sách xúc tiến thương mại và hỗ trợ tiếp cận thị trường. Việc lựa chọn 4 nhóm này xuất phát từ kết quả khảo sát Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI 2021) của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về 4 khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp tư nhân: tìm kiếm khách hàng, tiếp cận nguồn vốn, tìm kiếm mặt bằng kinh doanh và năng lực khoa học công nghệ hạn chế.
- Phạm vi thời gian: Phân tích thực trạng thực thi chính sách trong giai đoạn 10 năm (2011 - 2020), gắn với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tổng thể lần thứ 3 và các gói chính sách ứng phó tác động của dịch Covid-19; các giải pháp và khuyến nghị được đề xuất cho giai đoạn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.
- Phạm vi không gian: Đánh giá chính sách trên phạm vi cả nước và lựa chọn thành phố Hải Phòng làm địa bàn nghiên cứu điển hình. Hải Phòng là 1 trong 5 thành phố trực thuộc Trung ương, đứng thứ 7 về dân số (khoảng 2,1 triệu người), đứng thứ 6 cả nước về GRDP năm 2020 (đạt 276,6 nghìn tỷ đồng) và đứng thứ 6 về số lượng doanh nghiệp đang hoạt động (khoảng 20.195 doanh nghiệp, trong đó 96,28% là doanh nghiệp KTTN). Khu vực KTTN đóng góp khoảng 50% GRDP của thành phố vào năm 2020, tạo cơ sở thực tiễn để tham chiếu cho chính sách chung của quốc gia.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan hơn 100 công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước, được phân chia theo 3 nhóm chủ đề chính:
Nhóm 1: Các công trình về chính sách công và chính sách quản lý nhà nước
- Nghiên cứu trong nước: Nguyễn Minh Thuyết [68] xác định cấu trúc chính sách công gồm đường lối, biện pháp, kế hoạch thực hiện và chủ thể ban hành. Đề tài khoa học cấp nhà nước của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) do Lê Xuân Bá [5] chủ nhiệm nhấn mạnh việc hoàn thiện thể chế nhằm tạo quyền tự chủ, dịch chuyển nguồn lực hiệu quả và nâng cao năng lực thích ứng thị trường của doanh nghiệp. Đặng Ngọc Lợi [55] phân tích tính công của chính sách gắn liền với chủ thể Nhà nước và Chính phủ. Vũ Huy Từ và Lê Chi Mai [69] làm rõ các đặc trưng cơ bản của chính sách công và phân định với khái niệm "chính sách tư". Đặng Ngọc Dinh [29] chỉ ra điểm nghẽn của chính sách ở Việt Nam là mang nặng tính "công lập", thiếu sự tham gia phản biện thực chất của doanh nghiệp và người dân. Đối với địa bàn Hải Phòng, các nghiên cứu trước đây của CIEM, Đan Đức Hiệp và các tác giả khác tập trung vào cơ chế đặc khu kinh tế, xúc tiến xuất khẩu, thu hút FDI, cụm công nghiệp và kinh tế biển đến năm 2015 và 2020.
- Nghiên cứu quốc tế: Weimer và Vining (1999) [91] đưa ra định nghĩa về phân tích chính sách công dựa trên giá trị xã hội. Milan Zeleny [107] thiết lập hệ thống tiêu chí đánh giá chính sách dựa trên chi phí, lợi ích, hiệu lực, sự bình đẳng và tính thời điểm. MacRae và Widle [100] phân loại 4 nhóm tiêu chí đánh giá tính khả thi: chính trị, tác nghiệp hành chính, kỹ thuật và kinh tế tài chính. Kenichi Ohno [101] nhận định quy trình lập chính sách ở Việt Nam còn phụ thuộc nhiều vào ý chí chủ quan của nhà quản lý và đề xuất mô hình hoạch định đa bên (Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học, nhà tài trợ).
Nhóm 2: Các công trình về kinh tế tư nhân và doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân
- Khung lý luận và phân kỳ lịch sử: Trịnh Thị Hoa Mai [56] xây dựng lý luận về việc xóa bỏ cơ chế cũ để KTTN phát triển trong hội nhập. Nguyễn Thanh Tuyền [71] phân kỳ lịch sử KTTN qua 3 giai đoạn: khởi đầu (1986 - 1990), phát triển (1991 - 1999) và phát triển mạnh (2000 - 2005). Nguyễn Kế Tuấn [67] luận giải tính tất yếu khách quan của đa dạng hóa hình thức sở hữu trong thời kỳ quá độ. Vũ Hùng Cường [25] đánh giá vai trò động lực của KTTN giai đoạn 2001 - 2010 thông qua các đóng góp vào GDP, tăng trưởng, xuất khẩu, thu ngân sách và giải quyết việc làm.
- Rào cản và đường lối phát triển: Phạm Thị Thanh Bình (2018) [14] chỉ ra nghịch lý giữa vai trò động lực và hạn chế về năng lực quản trị, tài chính, mặt bằng sản xuất và sự thiếu đồng bộ của pháp luật thuế. Trần Thị Phương Hạnh và Trần Văn Giảng (2018) [159] làm rõ bước chuyển tư duy của Đảng từ chỗ "cải tạo" sang khuyến khích phát triển tập đoàn tư nhân. Nguyễn Hồng Sơn (2018) [167] và bài viết của Nguyễn Hồng Sơn, Phạm Thị Hồng Điệp (2017) [66] phân tích các rào cản về tư duy lý luận, chi phí không chính thức và bất bình đẳng cơ chế. Phạm Thị Lương Diệu (2018) [154] đánh giá tác động tích cực của các đạo luật (Luật Doanh nghiệp 1999, 2005, 2014 và Luật Đầu tư). Hồ Văn Vĩnh [83] giải quyết các vấn đề lý luận Mác - Lênin về phân phối, bóc lột và đảng viên làm kinh tế tư nhân. Nguyễn Đình Luận (2015) [54] khẳng định vai trò khơi thông nội lực của KTTN. Nguyễn Huy Viện (2019) [169] viện dẫn kinh nghiệm các nước phát triển (khu vực KTTN chiếm trên 85% GDP) để khẳng định KTTN là nền tảng giúp quốc gia giàu mạnh.
- Năng suất, hiệu quả và quy mô: Trần Đình Thiên phân tích sự trưởng thành của doanh nghiệp KTTN giai đoạn 2007 - 2016 và nhận định sự kém phát triển của công nghiệp hỗ trợ là điểm nghẽn liên kết ngang. Trần Thanh Phương (2013) cho rằng chất lượng tăng trưởng KTTN còn thấp và thiếu bền vững. Nguyễn Quang Thái, Vũ Hùng Cường và Bùi Trinh (2010) [73] sử dụng hàm Harrod-Domar và Solow, cùng Bùi Trinh và Mạnh Hùng (2009) sử dụng hệ số ICOR để chứng minh KTTN có hiệu quả đầu tư tích cực hơn khu vực nhà nước. Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam năm 2021 [78] cung cấp bộ chỉ tiêu thống kê giai đoạn 2016 - 2020. Lê Duy Bình [10] nhấn mạnh thực trạng năng suất lao động thấp, hiện tượng "thiếu vắng doanh nghiệp quy mô vừa", tính chất phi chính thức cao và chi phí tuân thủ pháp luật lớn. Bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng [72] khẳng định vị trí động lực của KTTN, yêu cầu xóa bỏ định kiến và bảo đảm sự bình đẳng.
Nhóm 3: Các công trình về chính sách QLNN đối với doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân
- Vũ Hùng Cường [24] và Trần Thanh Phương (2013) nhận định hệ thống chính sách hỗ trợ KTTN có cải thiện nhưng vẫn mang tính "chạy theo" thực tiễn chứ chưa đón đầu.
- Tại Hội thảo Kinh tế Việt Nam thường niên 2019, Trần Du Lịch chỉ ra rằng quy định pháp luật chồng chéo khiến doanh nghiệp tư nhân vẫn bị kìm kẹp bởi các điều kiện kinh doanh. Tại Diễn đàn Doanh nghiệp 2017, Trương Gia Bình nhấn mạnh sự minh bạch, tinh thần phục vụ và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
- Về tài chính và đất đai: Trần Kim Chung và Tô Ngọc Phan [27] nêu thực trạng chỉ có khoảng 40% doanh nghiệp tiếp cận được vốn ngân hàng do thiếu minh bạch tài chính; thủ tục thu hồi đất, giải phóng mặt bằng kéo dài và cách tính giá đất bất cập. Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2019 nêu các chỉ số tài chính năm 2018: dư nợ tín dụng đạt hơn 130% GDP, quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 71,6% GDP, dư nợ trái phiếu niêm yết đạt 1.122 nghìn tỷ đồng (20,3% GDP), nhưng KTTN vẫn gặp khó khăn khi tìm kiếm dòng vốn trung và dài hạn. Nguyễn Hồng Sơn phân tích rào cản về cơ chế đầu tư mạo hiểm cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.
- Về thể chế môi trường kinh doanh: Đỗ Đức Bình và Nguyễn Anh Tú [15], cùng Đỗ Đức Bình và Võ Thế Vinh (2017) [16] chỉ ra các rào cản thể chế, sự chồng chéo chức năng quản lý và kiến nghị dỡ bỏ hạn điền. Trương Công Đắc [38] viện dẫn Báo cáo Môi trường kinh doanh 2017 của WB: Việt Nam xếp thứ 82/190 về môi trường kinh doanh tổng thể, nhưng chỉ số khởi sự kinh doanh xếp thứ 121, nộp thuế xếp thứ 167 và giải quyết phá sản xếp thứ 125.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
- Các nghiên cứu trước đây đa phần chỉ khảo sát các chính sách hỗ trợ riêng lẻ hoặc nghiên cứu thể chế chung. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách phân tích tích hợp 4 nhóm chính sách thiết yếu nhất đối với doanh nghiệp KTTN trong bối cảnh thực hiện Chiến lược 2011 - 2020 và giai đoạn hậu Covid-19.
- Thiếu các nghiên cứu đánh giá sâu khâu triển khai thực thi chính sách ở cấp địa phương gắn với dữ liệu khảo sát thực nghiệm. Luận án bổ sung khoảng trống này thông qua điều tra sơ cấp đối với doanh nghiệp KTTN tại thành phố Hải Phòng để làm minh chứng thực tế.
- Phần lớn các công trình trước tập trung vào DNNVV, ít quan tâm đến doanh nghiệp quy mô lớn và tập đoàn tư nhân. Luận án mở rộng đối tượng nghiên cứu, khảo sát cả khối tập đoàn kinh tế tư nhân và các doanh nghiệp lớn thuộc bảng xếp hạng VNR500 trên địa bàn.
- Đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách QLNN đồng bộ dựa trên định hướng của Văn kiện Đại hội XIII của Đảng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Kinh tế tư nhân: Tiếp cận theo kinh tế học, KTTN là thành phần kinh tế hình thành dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và lợi ích cá nhân. Theo Nguyễn Đình Luận (2015) [54], KTTN ở cấp độ rộng là khu vực ngoài nhà nước sở hữu trên 50% vốn đầu tư; ở cấp độ hẹp gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX khẳng định KTTN là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Luận án xác định: KTTN là khu vực kinh tế do tư nhân làm chủ sở hữu về tư liệu sản xuất, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất - kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm và phân phối, chịu sự quản lý của Nhà nước bằng chính sách, pháp luật và các công cụ khác.
- Doanh nghiệp khu vực KTTN: Dưới góc độ pháp lý (Luật Doanh nghiệp 2005, 2014, 2020), quản trị kinh doanh, chức năng và lý thuyết hệ thống, luận án định nghĩa: Doanh nghiệp khu vực KTTN là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, sử dụng các nguồn lực tài chính, vật chất, công nghệ và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất - kinh doanh, mang lại lợi ích cho xã hội và chủ sở hữu, hoàn toàn do tư nhân sở hữu và không có vốn nhà nước, tập thể.
- Đặc điểm doanh nghiệp KTTN: (1) Tự bỏ vốn, tự tổ chức, tự chủ kinh doanh và tự chịu lỗ ("lời ăn - lỗ chịu"); (2) Có tư cách pháp nhân độc lập, chịu trách nhiệm tài sản; (3) Gắn liền với sự tồn tại và phát triển của địa phương nơi đặt trụ sở; (4) Chịu sự quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương.
- Vai trò của doanh nghiệp KTTN: Tạo ra khoảng 40% GDP, gần 30% thu ngân sách nhà nước, thu hút 85% lực lượng lao động cả nước [94]; riêng doanh nghiệp tư nhân và hộ cá thể phi nông nghiệp giải quyết việc làm cho khoảng 6 triệu lao động (so với khu vực nhà nước hơn 3 triệu lao động) [19]; khơi dậy nội lực vốn nhàn rỗi và tài nguyên địa phương; thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hội nhập kinh tế quốc tế.
- Quản lý nhà nước: Là hoạt động có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng quản lý theo những mục tiêu đã định [43].
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh.
| Phương pháp |
Nguồn dữ liệu |
Kỹ thuật thu thập và phân tích |
Mục đích sử dụng |
| Định tính |
Báo cáo bộ ngành, Niên giám thống kê, Sách trắng Doanh nghiệp 2021, Báo cáo PCI của VCCI, văn kiện Đảng, luật và văn bản dưới luật. |
Tổng hợp tài liệu, phân tích văn bản quy phạm, so sánh đối chiếu, thống kê mô tả, tổng kết thực tiễn. |
Phân tích thực trạng hệ thống chính sách; làm rõ kết quả, bất cập thể chế trong giai đoạn 2011 - 2020. |
| Định lượng |
Điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc từ 200 doanh nghiệp khu vực KTTN trên địa bàn các quận, huyện thuộc thành phố Hải Phòng. |
Khảo sát ngẫu nhiên phân tầng theo ngành nghề, loại hình và quy mô. Xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS (thống kê mô tả, phân tích tần số). |
Đánh giá hiệu quả 3 nhóm dịch vụ: dịch vụ hỗ trợ của chính quyền, chính sách phục hồi sau Covid-19 và thủ tục hành chính. |
Thông tin mẫu khảo sát sơ cấp:
- Quy mô mẫu: 200 doanh nghiệp khu vực KTTN tại Hải Phòng.
- Cơ cấu ngành: Công nghiệp chế biến chế tạo, xây dựng, thương mại - dịch vụ, nông - lâm - thủy sản, khai khoáng.
- Cơ cấu loại hình: Công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân.
- Cơ cấu quy mô: Doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ, vừa và doanh nghiệp lớn.
- Thời gian tiến hành: Khảo sát đợt 1 từ cuối năm 2019 đến năm 2020; khảo sát bổ sung vào tháng 3 và tháng 4 năm 2022.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến chính sách quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân
Chương này tổng thuật toàn diện các tài liệu học thuật theo 3 tuyến nội dung: chính sách công của Nhà nước, kinh tế tư nhân và chính sách QLNN đối với doanh nghiệp tư nhân. Tác giả chỉ ra sự vận động trong tư duy quản lý kinh tế của Đảng qua các kỳ Đại hội, từ chỗ chỉ coi trọng kinh tế nhà nước và tập thể sang xác lập KTTN là động lực quan trọng. Chương 1 khẳng định khoảng trống tri thức: các nghiên cứu trước đó chưa giải quyết đồng thời 4 nhóm chính sách thiết yếu trong giai đoạn Chiến lược 2011 - 2020, thiếu sự khảo sát thực chứng chuyên sâu tại các đô thị công nghiệp lớn như Hải Phòng và chưa phân tích tương xứng vai trò của các tập đoàn tư nhân quy mô lớn.
Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về chính sách quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân
Chương 2 làm rõ bản chất của KTTN và doanh nghiệp KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tác giả phân tích 4 đặc điểm cốt lõi và 3 vai trò căn bản của doanh nghiệp KTTN đối với việc tạo việc làm (khoảng 6 triệu lao động ngoài nông nghiệp), đóng góp GDP (khoảng 40%) và thúc đẩy hội nhập quốc tế. Luận án xây dựng khung phân tích chính sách QLNN tập trung vào 4 nhóm: tài chính - tín dụng, đất đai, khoa học công nghệ, xúc tiến thương mại và tiếp cận thị trường. Chương này cũng phân tích các nhân tố khách quan, chủ quan tác động đến hiệu quả chính sách và tổng kết các bài học kinh nghiệm quốc tế về tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, hỗ trợ chuyển giao công nghệ và tạo điều kiện tiếp cận các nguồn lực sản xuất.
Chương 3: Thực trạng chính sách quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam (qua nghiên cứu trường hợp thành phố Hải Phòng)
Chương 3 đi sâu đánh giá thực trạng thực thi chính sách QLNN đối với doanh nghiệp KTTN trên bình diện cả nước trong giai đoạn 2011 - 2020, sử dụng số liệu thực tiễn tại thành phố Hải Phòng làm minh chứng:
- Dữ liệu thực trạng tại Hải Phòng: Hải Phòng có quy mô dân số khoảng 2,1 triệu người (đứng thứ 7), GRDP năm 2020 đạt 276,6 nghìn tỷ đồng (đứng thứ 6 cả nước). Toàn thành phố có khoảng 20.195 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó 96,28% là doanh nghiệp KTTN; khu vực KTTN tạo ra khoảng 50% GRDP cho thành phố vào năm 2020. Địa bàn thành phố có sự hiện diện của 18 doanh nghiệp tư nhân thuộc Bảng xếp hạng VNR500 (Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam), tiêu biểu như: Công ty Cổ phần Nhiệt điện Hải Phòng, Công ty Cổ phần Nhựa Thiếu niên Tiền phong, Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh VinFast.
- Kết quả khảo sát 200 doanh nghiệp: Phân tích định lượng qua phần mềm SPSS chỉ rõ các rào cản thực tế: việc tiếp cận vốn vay ngân hàng còn nhiều trở ngại do yêu cầu tài sản thế chấp và tiêu chuẩn báo cáo tài chính; thủ tục giao đất, thuê đất, giải phóng mặt bằng tại các cụm, khu công nghiệp còn kéo dài; sự hỗ trợ đổi mới công nghệ từ các quỹ công còn hạn chế; các chính sách hỗ trợ phục hồi sản xuất kinh doanh do ảnh hưởng dịch Covid-19 chưa thực sự bao phủ đồng đều; thủ tục hành chính ở cấp cơ sở còn rườm rà.
- Đánh giá chung: Hệ thống chính sách đã tạo lập được khuôn khổ pháp lý cơ bản nhưng vẫn còn tình trạng vừa thừa vừa thiếu, thiếu tính liên thông; cán bộ cơ sở chưa nhận thức đầy đủ tinh thần phục vụ doanh nghiệp; vẫn còn khoảng cách về sự bình đẳng tiếp cận nguồn lực giữa khu vực tư nhân và khu vực nhà nước.
Chương 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam
Chương 4 đề xuất phương hướng hoàn thiện chính sách bám sát Nghị quyết Đại hội XIII và Nghị quyết số 10-NQ/TW, xác lập mục tiêu phát triển KTTN lành mạnh, hiệu quả, bền vững đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030. Luận án đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ:
- Hoàn thiện chính sách tài chính - tín dụng: Mở rộng các kênh cung ứng vốn trung và dài hạn; hoàn thiện cơ chế bảo lãnh tín dụng cho DNNVV; ban hành chính sách hỗ trợ vốn đầu tư mạo hiểm và vốn khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; minh bạch hóa thông tin tài chính doanh nghiệp.
- Hoàn thiện chính sách đất đai: Đơn giản hóa quy trình giải phóng mặt bằng, giao đất, cho thuê đất; công khai quy hoạch sử dụng đất; hoàn thiện phương pháp định giá đất sát giá thị trường; phát triển hạ tầng cụm công nghiệp cho doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ thuê mặt bằng.
- Hoàn thiện chính sách khoa học công nghệ: Thúc đẩy cơ chế liên kết chuyển giao công nghệ giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp tư nhân; khuyến khích các tập đoàn tư nhân thành lập trung tâm R&D; có chính sách ưu đãi thuế thực chất cho các hoạt động đổi mới máy móc thiết bị theo xu hướng Công nghệ 4.0.
- Hoàn thiện chính sách xúc tiến thương mại và hỗ trợ thị trường: Đẩy mạnh xúc tiến thương mại số, hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân tham gia sâu vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị trong nước, quốc tế; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và chống gian lận thương mại.
- Nâng cao hiệu lực bộ máy thực thi: Cải cách triệt để thủ tục hành chính, chuyển đổi số dịch vụ công; chấm dứt tình trạng thanh tra, kiểm tra chồng chéo, giảm chi phí không chính thức; thống nhất cách hiểu và thực thi văn bản quy phạm pháp luật từ Trung ương xuống địa phương.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án chỉ rõ các đóng góp mới về mặt học thuật và thực tiễn:
- Về hướng tiếp cận và nội dung chính sách: Dưới giác độ khoa học Quản lý công, luận án không nghiên cứu dàn trải mà tập trung phân tích sâu 4 nhóm chính sách trọng tâm (tài chính - tín dụng, đất đai, khoa học công nghệ, xúc tiến thương mại và tiếp cận thị trường) nhằm giải quyết đúng 4 khó khăn lớn nhất của các doanh nghiệp KTTN trong bối cảnh phục hồi sau đại dịch Covid-19.
- Về minh chứng thực nghiệm cấp địa phương: Luận án sử dụng dữ liệu thực thi chính sách tại thành phố Hải Phòng — một trung tâm kinh tế biển, có tỷ lệ doanh nghiệp KTTN chiếm 96,28% và đóng góp 50% GRDP địa phương — kết hợp điều tra khảo sát 200 doanh nghiệp bằng bảng hỏi cấu trúc để định lượng hóa mức độ đáp ứng của chính sách, cung cấp căn cứ thực tiễn tin cậy để tham chiếu cho việc hoàn thiện chính sách cấp quốc gia.
- Về đối tượng nghiên cứu: Bên cạnh khối DNNVV chiếm đa số, luận án đã mở rộng và chú trọng nghiên cứu các doanh nghiệp quy mô lớn và các tập đoàn kinh tế tư nhân (minh chứng qua 18 doanh nghiệp trên địa bàn Hải Phòng lọt vào bảng xếp hạng VNR500 như VinFast, Nhựa Tiền Phong, Nhiệt điện Hải Phòng), làm rõ vai trò dẫn dắt của các doanh nghiệp lớn theo đúng tinh thần Văn kiện Đại hội XIII.
- Về giải pháp thực tiễn: Cung cấp hệ thống giải pháp toàn diện từ thể chế, công cụ chính sách đến thái độ phục vụ của bộ máy hành chính cơ sở, hỗ trợ các cơ quan có thẩm quyền và chính quyền địa phương hoàn thiện chính sách quản lý đối với khu vực KTTN.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Căn cứ theo nội dung công bố trong văn bản, luận án xác định các giới hạn nghiên cứu:
- Luận án chỉ tiếp cận chính sách từ góc độ triển khai và kết quả thực hiện; không đi sâu vào phân tích quy trình kỹ thuật xây dựng, hoạch định và thẩm định văn bản chính sách công.
- Phạm vi doanh nghiệp nghiên cứu chỉ giới hạn ở các doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân trong nước; không khảo cứu khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI).
- Luận án tập trung vào 4 nhóm chính sách theo khảo sát khó khăn của PCI 2021; chưa nghiên cứu toàn diện các nhóm chính sách chuyên ngành khác như chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội hay quản lý môi trường.
- Mẫu khảo sát dữ liệu sơ cấp được thu thập tại thành phố Hải Phòng (quy mô 200 doanh nghiệp); chưa tiến hành khảo sát mở rộng trên nhiều tỉnh, thành phố khác trên toàn quốc.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phân tích quy trình hoạch định và đánh giá chính sách công đối với khu vực tư nhân.
- Khảo sát so sánh đối chứng giữa nhiều địa phương đại diện cho các vùng kinh tế khác nhau.
- Nghiên cứu cơ chế liên kết chuỗi giá trị giữa các doanh nghiệp tư nhân trong nước với khu vực doanh nghiệp FDI.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:
- Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Cung cấp luận cứ thực tiễn cho UBND thành phố Hải Phòng, các Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Công Thương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc rà soát thủ tục, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và triển khai Nghị quyết số 10-NQ/TW.
- Các nhà hoạch định chính sách cấp Trung ương: Cung cấp số liệu và đánh giá thực chứng từ cơ sở để hoàn thiện Luật Doanh nghiệp, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, Luật Đất đai và các chính sách tín dụng đối với khu vực kinh tế tư nhân.
- Nghiên cứu sinh, giảng viên và học viên: Là tài liệu học thuật hữu ích cho ngành Quản lý công, Quản lý kinh tế và Kinh tế chính trị; cung cấp phương pháp luận kết hợp nghiên cứu tài liệu thứ cấp với khảo sát bảng hỏi xử lý bằng phần mềm SPSS trong nghiên cứu chính sách công.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao luận án lựa chọn thành phố Hải Phòng làm địa bàn nghiên cứu điển hình?
Luận án lựa chọn Hải Phòng vì 3 lý do căn bản: (1) Hải Phòng là 1 trong 5 thành phố trực thuộc Trung ương, giữ vị trí quan trọng đối với vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, đứng thứ 7 cả nước về dân số (khoảng 2,1 triệu người) và đứng thứ 6 về GRDP năm 2020 (đạt 276,6 nghìn tỷ đồng); (2) Quy mô doanh nghiệp lớn với khoảng 20.195 doanh nghiệp hoạt động (đứng thứ 6 cả nước), trong đó 96,28% là doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN với đầy đủ loại hình; (3) Khu vực KTTN đóng góp lớn vào kinh tế thành phố, tạo ra khoảng 50% GRDP năm 2020. Do đó, kết quả thực thi chính sách tại Hải Phòng có giá trị đại diện và tham chiếu tốt cho cả nước.
2. Bốn nhóm chính sách QLNN trọng tâm mà luận án lựa chọn là gì và căn cứ lựa chọn từ đâu?
Bốn nhóm chính sách gồm: (1) Chính sách tài chính - tín dụng, (2) Chính sách đất đai, (3) Chính sách khoa học công nghệ, (4) Chính sách xúc tiến thương mại và hỗ trợ tiếp cận thị trường. Luận án lựa chọn 4 nhóm này căn cứ trên kết quả khảo sát của VCCI năm 2021 (PCI 2021) chỉ ra 4 rào cản lớn nhất của doanh nghiệp tư nhân: khó khăn tìm kiếm khách hàng, khó khăn tiếp cận nguồn vốn, khó khăn tìm kiếm mặt bằng kinh doanh phù hợp và năng lực khoa học công nghệ hạn chế.
3. Quy mô và phương pháp khảo sát dữ liệu sơ cấp của luận án được thực hiện như thế nào?
Luận án tiến hành điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc trên mẫu 200 doanh nghiệp KTTN được lựa chọn ngẫu nhiên tại các quận, huyện của thành phố Hải Phòng. Mẫu bao quát các ngành sản xuất chế tạo, xây dựng, thương mại, dịch vụ, nông - lâm - thủy sản; đại diện cho các quy mô siêu nhỏ, nhỏ, vừa và lớn; thuộc các loại hình công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân. Thời gian điều tra diễn ra trong 2 năm từ cuối 2019 đến 2020 và được khảo sát bổ sung vào tháng 3 - tháng 4 năm 2022. Số liệu sau đó được làm sạch và xử lý thống kê trên phần mềm SPSS.
4. Luận án xác định đối tượng nghiên cứu gồm những loại hình doanh nghiệp nào và loại trừ đối tượng nào?
Đối tượng nghiên cứu là các doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân trong nước, bao gồm cả doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh không có vốn sở hữu của Nhà nước. Luận án loại trừ, không khảo cứu các doanh nghiệp thuộc khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp FDI).
5. Luận án có đưa các doanh nghiệp lớn và tập đoàn tư nhân vào nghiên cứu không?
Có. Luận án khẳng định bên cạnh khối DNNVV chiếm 98%, luận án đặc biệt chú trọng nghiên cứu các doanh nghiệp quy mô lớn và các tập đoàn KTTN. Điển hình tại Hải Phòng có 18 doanh nghiệp tư nhân nằm trong Bảng xếp hạng VNR500 (Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam) như Công ty Cổ phần Nhiệt điện Hải Phòng, Công ty Cổ phần Nhựa Thiếu niên Tiền phong, Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh VinFast; các đơn vị này đều được đưa vào diện khảo sát, nghiên cứu của luận án.
Kết luận
Luận án là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc ngành Khoa học Quản lý công, làm sáng tỏ cơ sở lý thuyết và thực tiễn về chính sách QLNN đối với doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam. Thông qua phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa phân tích tài liệu thứ cấp giai đoạn 2011 - 2020 và khảo sát thực nghiệm 200 doanh nghiệp tại thành phố Hải Phòng được xử lý qua phần mềm SPSS, tác giả đã đánh giá rõ nét những kết quả đạt được cùng các bất cập trong 4 nhóm chính sách trọng điểm: tài chính - tín dụng, đất đai, khoa học công nghệ và tiếp cận thị trường. Luận án cung cấp hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện chính sách quản lý nhà nước đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030, phục vụ việc hiện thực hóa mục tiêu đưa kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế quốc dân theo định hướng của Đảng và Nhà nước.