Chương 1 của cuốn sách phân tích vai trò của KTTN đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010. Tác giả nhận định “Kinh tế thị trường mở đang tạo điều kiện dễ dàng cho KTTN lớn mạnh không ngừng. KTTN đã trở thành phương tiện phát triển kinh tế hiệu quả, trở thành lực lượng kinh tế có tiếng nói quyết định đến sức mạnh kinh tế của hầu hết các quốc gia và có ý nghĩa chính trị mang tính toàn cầu”. Nghiên cứu của Phạm Thị Thanh Bình (2018) về đề tài: “KTTN: Động lực quan trọng trong phát triển kinh tế Việt Nam” [14].
Trong đó tác giả đã nêu lên vai trò của KTTN là động lực của việc phát triển kinh tế Việt Nam và sự xuất hiện của KTTN là một tất yếu. Tuy nhiên tác giả cũng đã chỉ ra sự tương phản giữa vai trò này với thực tế là KTTN chưa đáp ứng được vai trò động lực quan trọng của nền kinh tế. Trình độ quản trị, năng lực tài chính, chất lượng sản phẩm, cạnh tranh yếu; khả năng liên kết và tham gia chuỗi giá trị còn nhiều hạn chế; tình trạng gian lận thương mại, cạnh tranh không lành mạnh vẫn phổ biến. Nguyên nhân chính là do: i) Môi trường pháp lý đối với khu vực KTTN chưa hoàn thiện, nhiều quy định chưa đầy đủ, chưa rõ ràng, thiếu nhất quán, phức tạp và chồng chéo; ii) Chính sách thuế quá nhiều bất cập và có sự phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân; iii) Thiếu thị trường, thiếu mặt bằng SX-KD là trở ngại lớn nhất đối với các doanh nghiệp; iv) Vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu quả quản lý của Nhà nước còn nhiều hạn chế.
Và từ việc chỉ ra các nguyên nhân cơ bản này tác giả đã đề xuất các giải pháp lớn nhằm thúc đẩy KTTN. Cụ thể là: i) Tiếp tục thay đổi nhận thức về KTTN; ii) Tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển KTTN; iii) Hỗ trợ KTTN đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động; iv) Nâng cao hiệu quả QLNN; v) Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, nâng cao vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội. 20 Nghiên cứu của Trần Thị Phương Hạnh, Trần Văn Giảng (2018) về đề tài “Phát triển KTTN ở Việt Nam: Bước chuyển lớn từ đường lối, chính sách” [159]. Trên cơ sở phân tích làm rõ các bước chuyển biến về quan điểm và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với KTTN từ khi đổi mới năm 1986 cho tới 2018.
Nghiên cứu đã chỉ ra các bước tiến trong việc xây dựng chủ trương, chính sách cho KTTN. Đầu tiên là quan điểm của Đảng, chủ trương nhất quán là phát triển kinh tế nhiều thành phần và khẳng định: KTTN là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên trên thực tiễn tại những năm đầu đổi mới KTTN nói riêng, các thành phần kinh tế phi XHCN nói chung vẫn được coi là thành phần phải “cải tạo”. Tiếp theo đó cùng với các kỳ đại hội Đảng, vai trò của KTTN dần dần được nâng lên, và cho tới Đại hội XII (2016) nhấn mạnh: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh KTTN ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế.
Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV, doanh nghiệp khởi nghiệp. Khuyến khích hình thành các tập đoàn KTTN đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước”; cùng với đó thì các chính sách cho thành phần kinh tế này tiếp tục được cải thiện để thể hiện tư duy kinh tế của Đảng phù hợp với thực tiễn phát triển của nền kinh tế sau 30 năm đổi mới. Nghiên cứu cũng tiếp tục đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm tiếp tục phát huy vai trò của thành phần kinh tế này như: +) Khẩn trương ban hành khung pháp lý, cơ chế, chính sách nhằm cụ thể hóa định hướng chính sách khuyến khích phát triển KTTN; +) Thực hiện triệt để cải cách hành chính, tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, bộ, ngành và chính quyền địa phương theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển KTTN; +) Hoàn thiện pháp luật về chế độ sở hữu rõ ràng kể cả đối với bất động sản, ruộng đất. góp phần ngăn ngừa xung đột trong xã hội, phân bổ nguồn lực hiệu quả; +) Đẩy mạnh hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, nâng cao năng lực quản trị; +) Giải quyết kịp thời các vướng mắc, khiếu nại, kiến nghị của doanh nghiệp trong quá trình SX-KD; +) Tăng cường tổ chức hội nghị tháo gỡ khó khăn cho các doanh 21 nghiệp, công bố số điện thoại đường dây nóng, hộp thư điện tử để tiếp nhận và trả lời, giải đáp những vướng mắc kịp thời của doanh nghiệp ở các cấp, ngành.
Nghiên cứu của Nguyễn Hồng Sơn (2018), về đề tài “Phát triển KTTN ở Việt Nam: Những rào cản và giải pháp khắc phục” [167]. Nghiên cứu đã chọn hướng tiếp cận là chỉ ra các rào cản khiến cho KTTN chưa thực sự phát huy được vai trò của mình trong hơn 30 năm vừa qua. Cụ thể Nguyễn Hồng Sơn đã nêu ra các rào cản như: Các rào cản có liên quan đến tư duy lý luận và nhận thức đối với sự phát triển của khu vực KTTN; Các rào cản liên quan đến khung khổ pháp luật cho sự phát triển khu vực KTTN; Các rào cản liên quan đến môi trường đầu tư và kinh doanh; Các rào cản có liên quan đến việc thực thi các quy định đối với hoạt động của khu vực KTTN; Các rào cản liên quan đến chi phí không chính thức; Các rào cản liên quan đến sự bất bình đẳng trong cơ chế chính sách đối với khu vực KTTN trong tương quan so sánh với các khu vực khác; Các rào cản liên quan đến hoạt động của bộ máy QLNN; Các rào cản do năng lực nội tại thấp và trong nhiều trường hợp, văn hóa kinh doanh còn nhiều bất cập. Từ nhóm các rào cản này tác giả đã đưa ra nhiều gợi ý cho việc phát triển KTTN trong thời gian tới.
Nghiên cứu của Nguyễn Hồng Sơn, Phạm Thị Hồng Điệp (2017), về đề tài “Phát triển KTTN ở Việt Nam: Quan điểm của Đảng và một số vấn đề đặt ra” [66]. Nghiên cứu của hai tác giả tập trung vào phân tích quan điểm và đường lối của Đảng trong việc phát triển KTTN trong hơn 30 năm qua. Nghiên cứu đã đưa ra một số nhận xét như sau: Từ Đại hội VI, chủ trương của Đảng đã cho phép phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, đa dạng về hình thức sở hữu từ đó mở ra cơ hội cho KTTN. Vị trí, vai trò của KTTN trong nền kinh tế nhiều thành phần được thừa nhận dần dần qua từng giai đoạn, và ngày càng khẳng định KTTN là thành phần kinh tế có vị trí quan trọng lâu dài với những đóng góp ngày càng quan trọng cho nền kinh tế.
Đảng đã có nhiều chủ trương, chính sách để thúc đẩy KTTN phát triển, tập trung vào hoàn thiện môi trường thể chế, chính sách, môi trường xã hội…. Tóm lại, quan điểm, đường lối của Đảng về KTTN và 22 khuyến khích tạo điều kiện phát triển KTTN qua những năm đổi mới đã có sự phát triển, hoàn thiện trên nền tảng nhất quán coi trọng sự tồn tại lâu dài của nền kinh tế nhiều thành phần (KTTN là một cấu thành quan trọng) trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Nghiên cứu của Phạm Thị Lương Diệu (2018) với đề tài: “Phát triển KTTN ở Việt Nam dưới tác động của việc cải thiện môi trường pháp lý” [154]. Tác giả đã tập trung vào làm rõ các chuyển biến về mặt pháp lý trong suốt hơn 30 năm đổi mới từ đó tạo ra các chuyển biến rõ nét đối với KTTN.
Bắt đầu từ việc Đảng chính thức thừa nhận KTTN vào Đại hội VI; tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập trong hành lang pháp lý thời kỳ này khiến KTTN không phát triển. Luật Doanh nghiệp năm 1999 và hàng loạt văn bản dưới luật đã góp phần hình thành nên môi trường pháp lý tương đối thông thoáng cho KTTN phát triển. Tiếp đến Luật Doanh nghiệp năm 2005 đưa ra khung khổ pháp luật thống nhất về doanh nghiệp; chấm dứt phân biệt đối xử đối với các doanh nghiệp theo thành phần kinh tế; góp phần thiết lập môi trường kinh doanh bình đẳng, công bằng. Đại hội XI (năm 2011) tiếp tục xác định phải hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh KTTN và quan điểm này đã được thể chế hóa thông qua: Luật Thuế tài nguyên 2009, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2009, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010, Luật Các tổ chức tín dụng 2010, Luật Trọng tài thương mại 2010.
Đặc biệt, Luật Doanh nghiệp năm 2014 (hiện nay Luật Doanh nghiệp 2020) và Luật Đầu tư năm 2014 (hiện nay là Luật Đầu tư 2019) là những xung lực quan trọng tác động tích cực đến sự phát triển của khu vực KTTN. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XII (năm 2017) đã tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của KTTN và đề ra các mục tiêu cụ thể về chỉ số phát triển KTTN. Ngoài ra nghiên cứu cũng đã chỉ ra các vấn đề còn hạn chế cần được giải quyết để KTTN phát triển bền vững như: vấn đề xây dựng chiến lược, quy hoạch; bộ máy tổ chức quản lý; chủ động phòng ngừa, hạn chế rủi ro; về đổi mới công nghệ. 23 Nghiên cứu của Hồ Văn Vĩnh với đề tài, “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển KTTN ở nước ta” [83].
Tác giả chủ yếu tập trung vào xem xét vấn đề lý luận cần được đặt ra đối với thực tiễn của nền kinh tế Việt Nam - phát triển KTTN. Cụ thể là: Nhận dạng và đánh giá KTTN nước ta, trước năm 1986 phạm trù KTTN không tồn tại trong lý luận và trong đời sống thực tiễn; và nếu tồn tại thì manh nha dưới hình thức khác. Phát triển KTTN với vấn đề bóc lột, bị bóc lột và điều này có trái với định hướng XHCN; Vấn đề đảng viên làm KTTN; Làm giàu bằng phát triển KTTN và vấn đề công bằng xã hội; Mối quan hệ giữa Nhà nước và KTTN; KTTN với việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN… Từ các vấn đề thực tiễn cần được luận giải và đã được tác giả soi chiếu dưới góc độ lý luận Chủ nghĩa Mac-Lenin và tái khẳng định sự tất yếu của phát triển KTTN về mặt lý luận.