Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thu hút đầu tƣ, các yếu tố ảnh hƣởng đến thu hút đầu tƣ; Chương 2: Thực trạng và các yếu tố ảnh hƣởng đến thu hút đầu tƣ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị; Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh thu hút đầu tƣ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong thời gian tới 5 van PHẦN 2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT ĐẦU TƢ 1. Cơ sở lý luận về đầu tƣ, thu hút đầu tƣ 1.
Khái niệm về đầu tư, thu hút đầu tư Đầu tư Do hoạt động đầu tƣ rất phong phú nên có nhiều cách hiểu về thuật ngữ này. Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam (Q1), Hà Nội, 1995“ Đầu tư là bỏ vốn vào một doanh nghiệp một công trình hay một sự nghiệp bằng nhiều biện pháp như cấp phát ngân sách, vốn tự có, liên doanh hoặc vay dài hạn để mua sắm thiết bị, xây dựng mới hoặc thực hiện việc hiện đại hoá mở rộng xí nghiệp nhằm thu doanh lợi hay phát triển phúc lợi công cộng. Theo Luật đầu tƣ thì “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Cũng theo luật này thì “vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp” [14].
Nhƣ vậy, theo nghĩa chung nhất đầu tƣ là việc bỏ ra các nguồn lực vào một công việc nào đó nhằm thu lợi lớn hơn trong tƣơng lai. Có hai đặc trƣng để phân biệt một hoạt động đƣợc coi là đầu tƣ đó là tính sinh lời và rủi ro. Nếu ngƣời ta chỉ chi phí ra để mua một thứ hàng hoá cho tiêu dùng thông thƣờng thì không thể có yếu tố đầu tƣ trong đó. Tuy nhiên, nếu hoạt động đầu tƣ nào cũng sinh lời mà không có rủi ro thì mọi ngƣời đều trở thành nhà đầu tƣ.
Chính hai thuộc tính này đã phân hoá, sàng lọc các nhà đầu tƣ và thúc đẩy xã hội phát triển. Ngƣời bỏ vốn đó đƣợc gọi là nhà đầu tƣ hay chủ đầu tƣ, họ có thể là cá nhân, tổ chức hoặc nhà nƣớc. Thu hút đầu tư Các hoạt động hay chính sách của chủ thể ở các địa phƣơng hay lãnh thổ (nhƣ các cơ quan chính phủ hay chính quyền, cộng đồng doanh nghiệp và dân cƣ địa phƣơng hay vùng lãnh thổ) nhằm xúc tiến, kêu gọi, tạo điều kiện thuận lợi để 6 van các nhà đầu tƣ bỏ vốn thực hiện các dự án đầu tƣ (thực hiện hoạt động bỏ vốn) hình thành vốn sản xuất trong các lĩnh vực kinh tế-xã hội trên địa bàn của mình. Thu hút đầu tƣ có nghĩa là làm gia tăng sự chú ý và quan tâm của các nhà đầu tƣ, nhằm hƣớng đến những lợi ích trƣớc mắt và lâu dài của chủ thể thực hiện cũng nhƣ các đối tƣợng.
Trong xu thế hiện nay, các địa phƣơng hay sử dụng cụm từ “cải thiện môi trƣờng đầu tƣ, kinh doanh”; về cơ bản, nội hàm của nó cũng bao gồm một số các hoạt động nhằm thu hút đầu tƣ. Tóm lại thu hút đầu tƣ là hoạt động nhằm khai thác, huy động các nguồn vốn đầu tƣ để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tƣ cho phát triển kinh tế. Thu hút đầu tƣ bao gồm tổng hợp các cơ chế, chính sách, thông qua các điều kiện về hành lang pháp lý, kết cấu hạ tầng kỹ thuật - xã hội, các nguồn tài nguyên, môi trƣờng… để thu hút các nhà đầu tƣ đầu tƣ vốn, khoa học công nghệ… để sản xuất, kinh doanh nhằm đạt đƣợc một mục tiêu nhất định. Vai trò của đầu tư đối với sự phát triển kinh tế Từ trƣớc tới nay khi nói về đầu tƣ, không một nhà kinh tế học nào và không một lí thuyết kinh tế nào lại không nói đến vai trò to lớn của đầu tƣ đối với nền kinh tế.
Có thể nói rằng đầu tƣ là cốt lõi là động lực cho sự tăng truởng và phát triển nền kinh tế: 1. Tác động tới tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế Đầu tƣ tác động mạnh tới tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế. Mức độ tác động cũng nhƣ thời gian ảnh hƣởng là khác nhau. Đối với tổng cầu: Đầu tƣ là một yếu tố cực kì quan trọng cấu thành tổng cầu.
Bởi vì , đầu tƣ một mặt tạo ra các sản phẩm mới cho nền kinh tế mặt khác nó lại tiêu thụ và sử dụng một khối lƣợng lớn hàng hoá và dịch vụ trong quá trình thực hiện đầu tƣ. Do vậy, xét về mặt ngắn hạn đầu tƣ tác động trực tiếp tới tổng cầu theo một tỉ lệ thuận - Mỗi sự thay đổi của đầu tƣ đều ảnh hƣởng tới ổn định của tổng cầu nền kinh tế. Đối với tổng cung: Ta biết rằng, tiến hành một công cuộc đầu tƣ đòi hỏi một nguồn lực, một khối lƣợng vốn lớn, thành quả (hay các sản phẩm và dịch vụ mới của nền kinh tế) của các công cuộc đầu tƣ đòi hỏi một thời gian khá dài mới có thể 7 van phát huy tác dụng. Do vậy, khi các thành quả này phát huy tác dụng làm cho sản lƣợng của nền kinh tế tăng lên.
Nhƣ vậy, đầu tƣ có tính chất lâu dài và nó sẽ làm cho đƣờng tổng cung dài hạn của nền kinh tế tăng lên. Qua sự phân tích trên ta thầy rằng, đầu tƣ ảnh hƣởng mạnh tới cả tổng cung và tổng cầu. Bởi vì, xét về mặt cầu thì đầu tƣ tiêu thụ một khối lƣợng lớn hàng hoá và dịch vụ cho nền kinh tế nhƣng đứng về mặt cung thì nó làm cho sản xuất gia tăng, giả cả giảm, tạo công ăn việc làm và làm tăng thu nhập từ đó kích thích tiêu dùng. Mà sản xuất phát triển chính là nguồn gốc của phát triển kinh tế xã hội, là điều kiện để cải thiện đời sống con ngƣời.
Nhƣ vậy đầu tƣ là nhân tố cho sự tăng trƣởng và phát triển một nền kinh tế [17]. Ảnh hưởng hai mặt tới sự ổn định nền kinh tế Khi nghiên cứu về đầu tƣ ai cũng hiểu rằng đầu tƣ luôn có một độ trễ nhất định, tức là "đầu tƣ hôm nay, thành quả mai sau”. Ngoài ra do đầu tƣ có ảnh hƣởng tới tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế không ăn khớp về thời gian do vậy nó có thể phá vỡ sự ổn định của một nền kinh tế. Nếu đầu tƣ tốt nó có thể giúp cho nền kinh tế tăng trƣởng và phát triển.
Ví dụ nhƣ các nƣớc NICs, do có đầu tƣ hiệu quả nên từ những nƣớc còn nghèo đã trở thành những nƣớc công nghiệp với nền kinh tế công nghiệp tƣơng đối phát triển. Giả sử bây giờ ta tăng đầu tƣ trong nƣớc, khi đó làm cho nhu cầu tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ liên quan đến công cuộc đầu tƣ nhƣ máy móc, thiết bị sức lao động, nguyên vật liệu. Điều đó làm cho tổng cầu của nền kinh tế của những loại hàng hoá này tăng lên, theo qui luật cung cầu của kinh tế dẫn đến giả cả của những hàng hoá này cũng tăng lên một cách mạnh mẽ, và đến một mức độ nào đó có thì dẫn tới lạm phát, với tỷ lệ có thể là rất cao. Khi lạm phát xảy ra, giá cả tăng vọt, dẫn đến các chi phí đầu vào cho sản xuất tăng lên dấn đến sản xuất bị đình trệ, và ngƣời lao động thất nghiệp, nền kinh tế bị giảm thu nhập và đời sống của các tầng lớp dân cƣ bị gảm sút.
Tất cả những điều đó làm cho nền kinh tế lâm vào khủng hoảng trì trệ và làm giảm tốc độ phát triển. Tuy nhiên nếu các quốc gia điều tiết đầu tƣ thì không những khắc phục đƣợc những ảnh hƣởng tiêu cực mà còn làm cho nó trở thành động lực cho sự tăng trƣởng và phát triển kinh tế [17]. Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển nền kinh tế Ta thấy rõ rằng đầu tƣ có ảnh hƣởng đến tổng cung và tổng cầu và tác động đến sự ổn định của nền kinh tế. Nhƣ vậy, sự tăng trƣởng và phát triển của nền kinh tế sẽ chịu ảnh hƣởng rất lớn của đầu tƣ.
Để xem xét cụ thể ta có thể sử dụng hàm Harrod- Domar để minh hoạ mối quan hệ giữa tốc độ tăng trƣởng và vốn đầu tƣ. i k= g Trong đó: + k: Hệ số gia tang vốn trên sản lƣợng hay hệ số ICOR + i: Vốn đầu tƣ + g: Mức tang GDP Từ đó suy ra: i g= k Nhƣ vậy, nếu ICOR không đổi thì tốc độ tăng trƣởng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tƣ hay nói cách khác đầu tƣ quyết định sự tăng truởng của nền kinh tế. Đối với mỗi quốc gia khác nhau ICOR cũng khác nhau, nó tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội và cơ chế chính sách của nhà nƣớc. Đối với các nƣớc đang phát triển có ICOR thấp còn các nƣớc phát triển ngƣợc lại.
Đồng thời chỉ số ICOR của nhiều ngành kinh tế là khác nhau, trong đó ICOR trong nông nghiệp thƣờng là rất thấp tốc độ tăng trƣởng của nông nghiệp cũng không cao. Ngoài ra đầu tƣ còn làm tăng năng suất lao động, chất lƣợng sản phẩm, năng lực sản xuất do vậy thay đổi tốc độ phát triển kinh tế. Vì vậy đối với mỗi quốc gia cần có một chính sách thích hợp để huy động vốn và đầu tƣ có hiệu quả nhằm nâng cao tốc độ tăng trƣởng và phát triển kinh tế nƣớc mình [17]. Đầu tư tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Một quốc gia đƣợc coi là phát triển khi cơ cấu kinh tế theo hƣớng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp trong đó công nghiệp và dịch vụ chiếm một tỷ lệ cao 9 van trong GDP của nƣớc đó.
Bởi vì nông nghiệp do nhiều hạn chế về điều kiện tự nhiên và khả năng sinh học của cây trồng vật nuôi nên chỉ có tốc độ tăng trƣởng tối đa từ 5-6%. Do vậy khi công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ lệ cao, nó có khả năng đƣa tốc độ tăng trƣởng kinh tế của nƣớc đó lên cao 9-10% năm. Muốn vậy chúng ta phải chính sách đầu tƣ thoả đáng. Mỗi nƣớc cần tăng cƣờng tỷ lệ đầu tƣ cho công nghiệp và dịch vụ và có nhiều chính sách phát huy hiệu quả của đầu tƣ có vậy thì mới có công nghiệp và dịch vụ phát triển.