PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Kể từ khi có Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài có hiệu lực năm 1988, dòng vốn FDI đã có tác động tích cực trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của nước ta trong suốt 30 năm đổi mới đất nước. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) luôn phát triển năng động, ngày càng phát huy vai trò quan trọng và có những đóng góp đáng kể trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Theo số liệu công bố của Tổng cục thống kê, trong 31 năm từ 1988-2019, tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đạt khoảng 218,8 tỷ USD, tổng vốn thực hiện đạt 106,3 tỷ USD, lĩnh vực công nghiệp chiếm tới gần 60%.
Thông tin từ Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, tính cho cả cấp mới và tăng vốn trong năm 2019 thì nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 38,957 tỷ USD, tăng 6,5% so với năm 2018 và vượt 19% kế hoạch năm 2018; Vốn FDI thực hiện năm 2019 đạt 20,38 tỷ USD. Các doanh nghiệp FDI đã có mặt và lấn át ở hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế. Thu hút vốn đầu tư FDI đã đem lại những kết quả khả quan, phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế. Riêng đối với tỉnh Tây Ninh, trong những năm qua địa phương đã xác định được vai trò quan trọng của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nên đã thực hiện nhiều chính sách “trải thảm đỏ” để mời gọi, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến với tỉnh nhà.
Thực tế cho thấy, số lượng các nhà đầu tư FDI vào Tây Ninh năm sau thường cao hơn năm trước. Có thể nói, Tây Ninh đang dần trở thành “vùng đất hứa” trong lĩnh vực thu hút dòng vốn FDI, tính đến nay, đã vượt hơn 5. Cộng với dòng vốn đầu tư trong nước 12.575 tỷ đồng, Tây Ninh đã trở thành một trong những địa phương có vốn thu hút đầu tư lớn của cả nước. Theo Ủy ban nhân dân tỉnh, khu vực kinh tế có vốn FDI chiếm vị trí quan trọng và có tác động lớn tới sự phát triển kinh tế của Tây Ninh.
25 năm thu hút FDI là một chặng đường đánh dấu nỗ lực đổi mới tư duy trong phát triển kinh tế của địa phương này. Từ một tỉnh thuần nông, xuất phát điểm kinh tế gần như không có gì đến nay tăng trưởng công nghiệp - dịch vụ trong GRDP hiện nay chiếm 75% Chính bởi vị trí quan trọng và không thể thay thế của nguồn vốn FDI đối với nền kinh tế của tỉnh Tây Ninh như vậy, cần có một công trình nghiên cứu sâu và toàn diện Luan van thực trạng thu hút FDI cũng như hệ thống chính sách FDI của Tây Ninh trong thời gian qua, đồng thời xác định mức độ thu hút FDI phù hợp để tối ưu hóa lợi ích thu được từ nguồn vốn này. Xuất phát từ thực tiễn này, đề tài nghiên cứu “Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Tây Ninh” được thực hiện. Các công trình nghiên cứu có liên quan trong và ngoài nước Có rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã được thực hiện theo các cách tiếp cận khác nhau về FDI.
Một số công trình tập trung vào những vấn đề lý luận chung về FDI như bản chất, đặc điểm, vai trò, các hình thức, tác động của FDI; một số nghiên cứu thực trạng FDI vào và ra một nước, một khu vực cũng như trên quy mô toàn cầu; một số khác bàn sâu về môi trường thu hút FDI nói chung cũng như tập trung phân tích một số yếu tố riêng biệt của môi trường thu hút FDI nói riêng (môi trường luật pháp, môi trường chính sách, thậm chí chỉ bàn riêng về chính sách tài chính trong thu hút FDI,…). Các công trình nghiên cứu nước ngoài Hầu hết các nghiên cứu đều thừa nhận sự cần thiết của vốn đầu tư nước ngoài đối với quốc gia tiếp nhận bao gồm vốn, bí quyết công nghệ, kinh nghiệm quản lý, marketing, mạng lưới sản xuất toàn cầu…; và là một động lực quan trọng tạo điều kiện cho các quốc gia tiếp nhận phát triển và tăng trưởng kinh tế (OECD, 2002). Có cùng quan điểm, OECD (2002) chỉ ra những lợi ích của nguồn vốn FDI và gợi ý việc chuyển giao công nghệ từ các dự án FDI được thực hiện qua bốn kênh: (i) chuyển giao theo chiều dọc với nhà cung cấp ở nước sở tại; (ii) chuyển giao theo chiều ngang với các đối thủ cạnh tranh hoặc các công ty thuộc ngành phụ trợ; (iii) di chuyển các lao động có tay nghề cao; (iv) quốc tế hóa hoạt động R&D. Về động cơ của FDI, World Bank (2011), và nhiều nghiên cứu khác cho thấy có một xu thế chạy đua để thu hút FDI trên toàn thế giới, tuy nhiên các lý do thu hút FDI vào từng quốc gia không giống nhau.
Các nghiên cứu cũng đã tổng kết lại một số lý do hấp dẫn FDI chủ yếu bao gồm: (i) tìm kiếm nguồn lực bao gồm cả nguồn tài nguyên thiên nhiên Luan van và nguồn lực con người; (ii) tìm kiếm thị trường; (iii) tìm kiếm hiệu quả đầu tư bằng cách giảm chi phí sản xuất, chi phí lao động; (iv) tìm kiếm tài sản chiến lược ở quốc gia tiếp nhận ví dụ công nghệ mới, thương hiệu, các kênh phân phối. Theo đó, các nghiên cứu gợi ý rằng các quốc gia cần phải dựa trên tiềm lực và lợi thế riêng của mình, để có chính sách thu hút FDI cho phù hợp và hiệu quả. Về hệ thống chính sách FDI, các chính sách có thể được phân chia làm ba cấp độ: (i) chính sách thu hút FDI; (ii) chính sách nâng cấp FDI; (iii) chính sách tạo mối liên kết giữa doanh nghiệp trong và ngoài nước. Trong đó, chính sách thu hút FDI được hình thành bằng các ưu đãi về thuế, đất đai, cơ chế thuận lợi trong việc chu chuyển vốn, xuất nhập khẩu, kinh doanh trên thị trường trong nước và các bảo đảm bằng luật về quyền sở hữu vốn và tài sản, sở hữu trí tuệ của nhà đầu tư.
Chính sách nâng cấp FDI được hình thành theo các định hướng ưu tiên thu hút FDI theo chiến lược phát triển của quốc gia. Trong một số trường hợp, có nước còn áp dụng hình thức trợ cấp của Chính phủ cho nhà đầu tư để họ thực hiện dự án có quy mô lớn, tác động lan tỏa rộng, thuộc danh mục ưu tiên cao nhất. Về hiệu quả của các chính sách FDI, các nghiên cứu cho thấy rằng, chính sách FDI hiệu quả phụ thuộc vào đặc thù riêng của từng quốc gia. Nghiên cứu của Bellak và cộng sự (2005) phân tích dữ liệu theo ngành của hai nhóm nước là Mỹ và 6 nước EU (US + EU6) và nhóm 4 nước Tây Âu (CEEC 4); kết luận cho thấy ở các nước CEEC 4 chi tiêu chính phủ cho hoạt động R&D sẽ tạo ra sự gia tăng quan trọng trong FDI; trong khi ở các nước US+EU6 sự cải thiện trong chi phí lao động đơn vị (như cải thiện năng suất lao động) và chính sách thuế sẽ thu hút nhiều FDI hơn.
Nghiên cứu cũng hệ thống hóa các chi phí này trong 32 nước đang phát triển, từ đó chỉ ra mối liên hệ ngược chiều giữa chi phí quản lý và FDI đến tỷ lệ tăng trưởng GDP của các quốc gia sau khi đã kiểm soát các yếu tố khác. Để đánh giá hệ thống chính sách FDI, nghiên cứu của SESRIC (2014) gợi ý sử dụng chỉ số FDI tiềm năng và chỉ số FDI thực hiện được xây dựng và phát triển bởi UNCTAD (2002). Về mức độ thu hút vốn FDI (ngưỡng FDI), dựa trên ý tưởng về sự phụ thuộc của mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế với khả năng hấp thụ của nước chủ nhà, nhiều nghiên cứu trên thế giới đã đưa ra gợi ý về các biến ngưỡng như Borensztein (1998), Luan van Raheem D. Edwards (2011), Jyun-Yi W.
và cộng sự (2008), Demekas D. và cộng sự (2005), Melnyk và cộng sự (2014), Shu-Chen Chang (2015), Miao Fu, Tieli Li (2006)…. Mặc dù kết quả khác nhau, song hầu hết các nghiên cứu đều đi đến kết luận về việc tồn tại một hoặc nhiều giá trị ngưỡng mà một khi đạt tới các giá trị ngưỡng này, tác động của FDI lên tăng trưởng sẽ đảo chiều. Tuy nhiên, khi Ford, Sen & Wei (2010) nghiên cứu trường hợp của Trung Quốc trong giai đoạn 1970 – 2005, kết luận cho thấy cho dù trình độ quản lý nhà nước tốt ở mức nào thì FDI cũng không có ảnh hưởng tích cực đến nền kinh tế.
Các công trình nghiên cứu trong nước Hiện nay, có thể liệt kê một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về FDI trong nước như sau: - Lê Thị Hải Vân (2012) thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) “Liên kết giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài với đầu tư trong nước tại Việt Nam”, Đề tài đã đánh giá thực trạng liên kết giữa khu vực FDI với khu vực trong nước từ đó rút ra những tồn tại và hạn chế về liên kết giữa hai khu vực, đề xuất một số cơ chế chính sách tăng cường mối liên kết giữa hai khu vực đầu tư trong nước và nước ngoài nhằm hỗ trợ cho cơ quan lập chính sách về chính sách nâng cao vai trò của FDI tại Việt Nam. - Đỗ Nhất Hoàng (2015) thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) “Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong quá trình đổi mới kinh tế tại Việt Nam”, Đề tài đã đánh giá và khẳng định vai trò to lớn của khu vực FDI trong quá trình đổi mới kinh tế của Việt Nam. - Kỷ yếu hội thảo tổng kết 25 năm đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư). Kỷ yếu đã đề cập đến nhiều đánh giá của các cơ quan quản lý nhà nước và nhận định của các chuyên kinh tế về tình hình thu hút và sử dụng vốn FDI trong thời gian qua, kiến nghị một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn FDI trong việc phát kinh tế tại các địa phương trong thời gian tới.
- Kỷ yếu hội thảo khoa học cấp quốc gia 2019, Thực trạng phát triển khu vực FDI trong thực hiện chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam, Bộ Khoa học và công nghệ.