MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Quá trình phát triển kinh tế hiện nay, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài được sự quan tâm ở Việt Nam, vì nó có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, tạo việc làm và bảo đảm an sinh xã hội cho người dân. Muốn thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, mỗi địa phương cần phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, từ kinh tế, quản lý, đầu tư cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thị trường tiêu thụ, pháp lý…Trước đây, các nhà đầu tư lựa chọn địa phương có những điều kiện thuận lợi về giao thông, tài nguyên, nguồn nhân lực… để thực hiện các hoạt động đầu tư kinh doanh. Tuy nhiên, những năm gần đây, các nhà đầu tư nước ngoài lại quan tâm đến những địa phương xây dựng và thực hiện môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, minh bạch, thân thiện.
Chính vì vậy, muốn thu hút mạnh mẽ các nhà đầu tư nước ngoài thì mỗi địa phương, ngoài việc phải tận dụng những ưu thế khách quan như vị trí địa lý, điều kiện khí hậu, tài nguyên thiên nhiên,… thì điều quan trọng là cần phải tạo lập môi trường đầu tư thuận lợi nhất thông qua các chính sách, cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài… Qua hơn 30 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật thu hút, quản lý đầu tư nước ngoài, tạo dựng môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, từng bước tiếp cận với thông lệ quốc tế. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã phát triển nhanh và có hiệu quả, trở thành bộ phận quan trọng của nền kinh tế, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hoạt động đầu tư nước ngoài ngày càng sôi động, nhiều tập đoàn đa quốc gia, doanh nghiệp lớn với công nghệ hiện đại đầu tư vào nước ta; quy mô vốn và chất lượng dự án tăng, góp phần tạo việc làm, thu nhập cho người lao động;nâng cao trình độ, năng lực sản xuất; tăng thu ngân sách nhà nước, ổn định kinh tế vĩ mô; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng; nâng cao vị thế và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế. 1 Luan van Tuy nhiên, việc thu hút, quản lý và hoạt động đầu tư nước ngoài vẫn còn những tồn tại, hạn chế và phát sinh những vấn đề mới.
Thể chế, chính sách về đầu tư nước ngoài chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Chính sách ưu đãi còn dàn trải, thiếu nhất quán, không ổn định. Môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh tuy đã được cải thiện, nhưng vẫn còn hạn chế; chất lượng, hiệu quả thu hút và quản lý đầu tư nước ngoài chưa cao. Hạ tầng kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng yêu cầu; còn thiếu các thiết chế văn hoá, xã hội thiết yếu.
Cơ chế và năng lực xử lý tranh chấp hiệu lực, hiệu quả chưa cao. Hệ thống tổ chức bộ máy và năng lực thu hút, quản lý đầu tư nước ngoài còn bất cập, phân tán, chưa đáp ứng được yêu cầu, thiếu chủ động và tính chuyên nghiệp. Số lượng dự án quy mô nhỏ, công nghệ thấp, thâm dụng lao động còn lớn; phân bố không đều; tỉ lệ vốn thực hiện trên vốn đăng ký còn thấp. Tỉ trọng đóng góp cho ngân sách nhà nước có xu hướng giảm.
Liên kết, tương tác với các khu vực khác của nền kinh tế thiếu chặt chẽ, hiệu ứng lan toả về năng suất và công nghệ chưa cao; tỉ lệ nội địa hoá còn thấp. Các hiện tượng chuyển giá, đầu tư "chui", đầu tư "núp bóng" ngày càng tinh vi và có xu hướng gia tăng. Một số doanh nghiệp, dự án sử dụng lãng phí tài nguyên, đất đai, vi phạm chính sách, pháp luật về lao động, tiền lương, thuế, bảo hiểm xã hội, môi trường.; phát sinh nhiều vụ việc tranh chấp, khiếu kiện phức tạp cả trong nước và quốc tế. Việc phát triển tổ chức và phát huy vai trò của các tổ chức đảng, công đoàn, các tổ chức chính trị-xã hội, xã hội-nghề nghiệp trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài còn khó khăn.
Những hạn chế, yếu kém nêu trên do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Nhận thức của các cấp, các ngành và của xã hội còn chưa đầy đủ, nhất quán; thu hút đầu tư nước ngoài còn thiếu chọn lọc. Tư duy và định hướng đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật liên quan chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn, thiếu đồng bộ, nhiều quy định còn chồng chéo, mâu thuẫn. Năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác thu hút, quản lý đầu tư nước ngoài nhiều nơi còn hạn chế, thiếu tính chủ động, sáng tạo; khả năng phân tích, dự báo còn bất cập.
Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm có lúc, có nơi chưa nghiêm. 2 Luan van An Giang là một tỉnh nằm trong khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, có nhiều điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI (Foreign Direct Investment). Với đường biên giới dài giáp Campuchia, An Giang có nhiều địa danh lịch sử, phong cảnh đẹp và hoang sơ, kết hợp với nét văn hóa dân tộc Chăm độc đáo, Đặc biệt sự phát triển của du lịch tâm linh đã tạo cho tỉnh An Giang cơ hội thu hút đầu tư trong lĩnh vực du lịch, dịch vụ, thương mại và phát triển kinh tế biên mậu. Ngoài ra, với tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động khá cao cùng với nguồn đất cho nông nghiệp và công nghiệp dồi dào đã mang đến cho An Giang điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp công nghệ cao và công nghiệp sản xuất chế biến, nhất là với hai sản phẩm mang tầm quốc gia là cá ba sa và lúa.
Bên cạnh đó, tỉnh An Giang sẽ được hưởng lợi từ các công trình trọng điểm của khu vực miền tây như: cầu Vàm Cống, cầu Cao Lãnh, cầu Long Bình,. Tuy có nhiều điều kiện thuận lợi như vậy nhưng hoạt động đầu tư tại tỉnh An Giang vẫn chưa tương xứng với tiềm năng hiện có. Theo báo cáo của tỉnh An Giang, tính đến cuối năm 2018, tỉnh An Giang mới chỉ thu hút được 197 dự án trong nước với tổng vốn 37.247 tỷ đồng (75 dự án được thực hiện với số vốn 4. Bốn dự án đầu tư nước ngoài được đăng ký với 7.224 USD, trong đó có 2 dự án vào hoạt động với vốn giải ngân 197.
Con số trên là rất khiêm tốn so với số vốn FDI vào khoảng 4,8 tỷ USD của Phú Yên – một tỉnh có điều kiện tương tự như An Giang. Nhìn rộng hơn, TP Hồ Chí Minh thu hút khoảng 44,8 tỷ USD, Bình Dương thu hút khoảng 26,7 tỷ USD, Đồng Nai thu hút khoảng 25,7 tỷ USD… Điều đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng nó phản ảnh vấn đề thu hút đầu tư tại tỉnh An Giang còn chưa được quan tâm đúng mức. Với mục tiêu thu hút đầu tư, phát triển kinh tế, đặc biệt là hướng tới việc “xây dựng tỉnh An Giang trở thành điểm đến của Đồng bằng Sông Cửu Long trong tương lai” cũng như quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của tỉnh An Giang đến năm 2020, của Thủ tướng Chính phủ thì tỉnh An Giang cần quyết tâm thực hiện nhiều giải pháp để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Trong đó, tìm ra giải pháp rất quan trọng để thu hút đầu tư.
Nên việc nghiên cứu để đề xuất các giải pháp nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cho tỉnh An Giang là yêu cầu rất cần thiết. Chính 3 Luan van vì vậy, tác giả thực hiện đề tài “Đẩy mạnh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh An Giang” làm luận văn cho chương trình thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế. Các công trình nghiên cứu có liên quan Trong giai đoạn phát triển kinh tế hiện nay, thu hút đầu tư là vấn đề được đặt ra hàng đầu và nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Có thể phân chia các công trình nghiên cứu về thu hút đầu tư ở các khía cạnh khác nhau như: nghiên cứu ở trong nước và ngoài nước; nghiên cứu về thu hút đầu tư trực tiếp và gián tiếp; nghiên cứu về thu hút đầu tư trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài; nghiên cứu về thu hút đầu tư dưới góc độ kinh tế, pháp lý, chính trị…Trong phạm vi đề tài, tác giả tạm thời chia các công trình nghiên cứu thành: các công trình nghiên cứu ở nước ngoài và các công trình nghiên cứu ở trong nước liên quan đến thu hút đầu tư.
Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Ở nước ngoài, có một số công trình nghiên cứu về thu hút đầu tư dưới nhiều góc độ khác nhau, đặc biệt là dưới góc độ kinh tế và pháp lý. Alemu Aye Mengistu và Bishnu Kumar Adhikary (2008) qua bài viết: “Does good governance matter for FDI inflows? Evidence from Asian economies” (tạm dịch: quản trị tốt có ảnh hưởng đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài như thế nào?, minh chứng từ các nền kinh tế châu Á)1 đã đánh giá sự tác động của 6 yếu tố của quản trị hiệu quả đối với nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của 15 nền kinh tế châu Á trong thời kỳ 1996-2007. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố chìa khoá trong quản trị hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài gồm: sự ổn định chính trị và an ninh tốt, hiệu quả của chính quyền, pháp quyền, phòng chống tham nhũng. Ngoài ra, các yếu tố khác cũng có ảnh hưởng quan trọng đến thu hút đầu tư nước ngoài là: nhân lực, cơ sở hạ tầng, lãi suất cho vay, tỷ lệ tăng trưởng GDP.
Nhìn 1 Alemu Aye Mengistu, Bishnu Kumar Adhikary, “Does good governance matter for FDI inflows? Evidence from Asian economies”, Asia Pacific Business Review. Alemu Aye Mengistu, công tác tại Trường Đại học Ritsumeikan Asia Pacific, Nhật Bản và Bishnu Kumar Adhikary, công tác tại Trường Quản trị Quốc tế, Đại học Ritsumeikan Asia Pacific, Nhật Bản. 4 Luan van chung, những yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư nước ngoài gồm yếu tố chính trị (ổn định chính trị), yếu tố pháp lý (pháp quyền, hiệu quả của chính quyền) và yếu tố kinh tế (nhân lực, cơ sở hạ tầng…).