Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Trong chương này, tác giả sẽ tiến hành nêu sự cần thiết cho nghiên cứu này, mục đích nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu, đóng góp của đề tài, bố cục luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các công trình nghiên cứu về chính sánh chi trả cổ tức. Trong chương này, tác giả sẽ tiến hành tìm hiểu các khái niệm có liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu: cổ tức, chính sách cổ tức, các chính sách cổ tức đang được áp dụng, quá trình trả cổ tức, phương thức chi trả cổ tức, các lý thuyết có liên quan, z -7- hệ thống lại các công trình nghiên cứu trước đây về chính sách chi trả cổ tức làm cơ sở xác định các yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức,… Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trong chương này, tác giả sẽ tiến hành mô tả bộ dữ liệu nghiên cứu, thu thập số liệu, xử lý số liệu, phân tích số liệu, lựa chọn mô hình gốc làm cơ sở cho việc lựa chọn mô hình nghiên cứu của riêng tác giả, qua đó tác giả đã mô tả cách tính biến trong mô hình, sự kỳ vọng dấu, phân tích các biến và đặt giả thuyết nghiên cứu cho các biến trong mô hình, cuối cùng là trình bày các phương pháp ước lượng mô hình,… Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trong chương này, tác giả sẽ trình bày phần thực trạng của việc chi trả cổ tức của các công ty trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh trong thời gian 2009 – 2016.
Sau đó, tác giả sẽ tiến hành chạy lần lượt cho cả ba mô hình bằng các phương pháp ước lượng (Pooled OLS, FEM và REM), dựa vào kết quả đó giúp cho tác giả lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp nhất và sau đó dùng các kiểm định cần thiết cho mô hình được tác giả lựa chọn nhằm khắc phục những khuyết tật của mô hình và cuối cùng là tiến hành phân tích kết quả. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Trong chương này, tác giả sẽ đưa ra kết luận cho kết quả nghiên cứu của mình và dựa trên kết quả này tác giả sẽ đưa ra một số khuyến nghị cụ thể về chính sách chi trả cổ tức của các công ty trong thời gian tới. Ngoài ra, tác giả còn đưa ra những hạn chế của luận văn cũng như hướng nghiên cứu tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VỀ CHÍNH SÁCH CỔ TỨC Trong chương này, tác giả sẽ tiến hành tìm hiểu các lý thuyết nền có liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu: cổ tức, chính sách cổ tức, các chính sách chi trả cổ tức đang được áp dụng, quá trình trả cổ tức, điều kiện chi trả cổ tức, phương thức chi trả cổ tức, các lý thuyết có liên quan, kế thừa và hệ thống lại các công trình nghiên cứu trước đây về chính sách chi trả cổ tức để làm cơ sở xác định các yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức, cũng như đề xuất hướng nghiên cứu của tác giả,… 2.1 Các khái niệm có liên quan 2.1 Cổ tức (Divedends) Cổ tức là một phần lợi nhuận sau thuế được chia cho các cổ đông của một công ty cổ phần.
Cổ tức có thể được trả bằng tiền hoặc bằng cổ phiếu.2 Chính sách cổ tức (Divedends policy) Chính sách cổ tức là chính sách ấn định phân phối lợi nhuận giữ lại tái đầu tư và chi trả cổ tức cho cổ đông. Lợi nhuận giữ lại cung cấp cho các nhà đầu tư một nguồn tăng trưởng lợi nhuận tiềm năng tương lai thông qua hoạt động tái đầu tư, trong khi cổ tức cung cấp cho họ một phân phối hiện tại. Nó ấn định mức lợi nhuận sau thế của công ty sẽ được đem ra phân phối như thế nào, bao nhiêu phần trăm được giữ lại để tái đầu tư và bao nhiêu dùng để chi trả cổ tức cho các cổ đông. Vì thế, chính sách cổ tức sẽ có ảnh hưởng đến số lượng vốn cổ phần trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp (thông qua lợi nhuận giữ lại) và chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp (Trần Ngọc Thơ, 2007).2 Điều kiện trả cổ tức Căn cứ quy định tại điều 132 của Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 về điều kiện trả cổ tức cho cổ phần phổ thông của các CTCP.
Cổ tức trả cho cổ phần phổ thông được xác định dựa trên nguồn lợi nhuận sau thuế của công ty. Do đó, các công ty cổ phần chỉ được chi trả cổ tức cho các cổ đông khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây: z -9- - Công ty đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật - Đã trích lập các quỹ của công ty và bù đắp các khoản lỗ những năm trước đó theo đúng quy định của pháp luật và điều lệ công ty - Ngay sau khi trả hết số cổ tức đã quy định, công ty vẫn phải đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác khi đến hạn. Cổ tức có thể được chi trả bằng tiền mặt, bằng cổ phần của công ty hoặc bằng tài sản khác được quy định tại điều lệ công ty. Cổ tức phải được thanh toán đầy đủ trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày kết thúc cuộc họp đại hồi đồng cổ đông thường niên.3 Các chính sách chi trả cổ tức 2.1 Chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động Chính sách này cho rằng một doanh nghiệp nên giữ lại lợi nhuận khi doanh nghiệp có các cơ hội đầu tư hứa hẹn với tỷ suất sinh lợi cao hơn tỷ suất sinh lợi mong đợi mà các cổ đông đòi hỏi.
Ngoài ra, nguyên lý giữ lại lợi nhuận thụ động cũng đề xuất là các công ty “tăng trưởng” thường có tỷ lệ chi trả cổ tức thấp hơn các công ty đang trong giai đoạn bão hòa. Nói cách khác, chính sách lợi nhuận giữ lại thu động ngụ ý việc chi trả cổ tức của doanh nghiệp là nên thay đổi từ năm này sang năm khác tùy thuộc vào các cơ hội đầu tư có sẵn. Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp thường cố gắng duy trì một mức cổ tức ổn định theo thời gian. Điều này không có nghĩa là các doanh nghiệp đã bỏ qua nguyên lý về chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động, mà bởi vì cổ tức cố thế được duy trì ổn định hằng năm theo hai cách: - Thứ nhất, doanh nghiệp có thể giữ lại lợi nhuận với tỷ lệ khá cao trong những năm có nhu cầu vốn cao.
Nếu đơn vị tiếp tục tăng trưởng, các giám đốc có thể tiếp tục thực hiện chiến lược này mà không nhất thiết phải giảm cổ tức. - Thứ hai, doanh nghiệp có thể đi vay vốn để đáp ứng nhu cầu đầu tư và do đó tăng tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần một cách tạm thời để tránh phải giảm cổ tức. Nếu doanh nghiệp có nhiều cơ hội đầu tư tốt trong suốt một năm nào đó thì chính sách vay nợ sẽ thích hợp hơn so với z - 10 - việc cắt giảm cổ tức. Sau đó, trong những năm tiếp theo doanh nghiệp cần giữ lại lợi nhuận để đẩy tỷ số nợ trên vốn cổ phần về lại mức thích hợp.2 Chính sách cổ tức tiền mặt ổn định Hầu hết các doanh nghiệp và cổ đông đều thích chính sách cổ tức tương đối ổn định.
Tính ổn định được đặc trưng bằng một sự miễn cưỡng trong việc giảm lượng tiền mặt chi trả cổ tức từ kỳ này sang kỳ khác. Tương tự, những gia tăng trong tỷ lệ cổ tức cũng thường bị trì hoãn cho đến khi các giám đốc tài chính công bố rằng các khoản lợi nhuận trong tương lai đủ cao đến mức độ thỏa mãn cổ tức lớn hơn. Như vậy, tỷ lệ cổ tức có khuynh hướng đi theo sau một gia tăng trong lợi nhuận và đồng thời cũng thường trì hoãn lại trong một chừng mực nào đó.3 Chính sách chi trả cổ tức khác Ngoài chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động và cổ tức tiền mặt cố định, các doanh nghiệp còn có thể sử dụng một số các chính sách cổ tức khác nhau như: Chính sách cổ tức có tỷ lệ chi trả không đổi: nếu lợi nhuận của doanh nghiệp thay đổi nhiều năm từ năm này sang năm khác thì cổ tức cũng có thể dao động theo. Chính sách chi trả một cổ tức nhỏ hàng quý cộng với cổ tức thưởng thêm vào cuối năm.
Chính sách này đặc biệt thích hợp cho những doanh nghiệp có lợi nhuận hoặc nhu cầu tiền mặt biến động giữa năm này với năm khác, hoặc cả hai. Ngai cả khi doanh nghiệp có mức lợi nhuận thấp, các nhà đầu tư vẫn có thể trong cậy vào một mức chi trả cổ tức đều đặn của họ; còn khi lợi nhuận cao và không có nhu cầu sử dụng ngay nguồn tiền dôi ra này, các doanh nghiệp sẽ công bố một mức cổ tức thưởng cuối năm. Chính sách này giúp ban điều hành có thể linh hoạt giữ lại lợi nhuận khi cần mà vẫn thỏa mãn được nhu cầu của các nhà đầu tư là muốn nhận được một mức cổ tức “bảo đảm”. Như vậy, có rất nhiều chính sách cổ tức để doanh nghiệp lựa chọn sao cho phù hợp với dòng tiền, lưu lượng tiền tệ và nhu cầu đầu tư của đơn vị.
Mặc dù được xếp ưu tiên thấp hơn chính sách tài trợ và chính sách đầu tư, nhưng việc chọn chính sách cổ tức cũng đòi hỏi được xem xét cẩn thận bởi vì nó ảnh hưởng z - 11 - trực tiếp đến lợi ích của cổ đông và tới sự phát triển của công ty. Sau khi đã thống nhất chọn được chính sách chi trả cổ tức, việc tiếp theo mà đại hội đồng cổ đông cũng như các nhà quản lý doanh nghiệp phải cân nhắc đó là: lựa chọn phương thức chi trả cổ tức.4 Phương thức chi trả cổ tức Cổ tức là khoản lợi nhuận ròng được trả cho các cổ đông thông qua hình thức bằng tiền mặt hoặc bằng tài sản khác từ nguồn lợi nhuận còn lại của công ty sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài chính. Thông thường có ba phương thức chi trả cổ tức cơ bản là: cổ tức bằng tiền mặt, cổ tức bằng cổ phiếu và cổ tức bằng tài sản. Trong đó, hai phương thức đầu là phổ biến nhất.1 Phương thức chi trả cổ tức bằng tiền mặt Hầu hết cổ tức được trả dưới dạng tiền mặt.
Bởi vì, nếu xét về mặt bản chất thì khi nhà đầu tư bỏ tiền ra đầu tư cổ phiếu với kỳ vọng sẽ thu được số tiền trong tương lai.