Đặt vấn đề Là một trong những tỉnh có tốc độ tăng trƣởng kinh tế cao và nằm trong Vùng kinh tế Trọng điểm phía Nam, Đồng Nai có nhiều tiềm năng, thế mạnh và vị trí địa lý thuận lợi để phát triển một nền công nghiệp hiện đại. Điều này đã góp phần tạo nên những chuyển biến tích cực trong các vấn đề xã hội, cải thiện đời sống của ngƣời dân đang sinh sống ở địa phƣơng. Một trong những nguyên nhân chính để đạt đƣợc những chuyển biến nêu trên chính là hiệu quả to lớn trong việc huy động vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài, trong đó phải kể đến nguồn vốn đầu tƣ to lớn từ các nƣớc Đông Bắc Á vào các dự án tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Đây là khu vực tập trung nhiều nền kinh tế năng động và ngày càng có ảnh hƣởng rõ rệt đến hoạt động kinh tế toàn cầu, trong đó phải kể đến các nền kinh tế phát triển vƣợt bậc nhƣ Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Trung Quốc (Đài Loan).
Trong nhiều năm trở lại đây, làn sóng đầu tƣ trực tiếp từ các nhà đầu tƣ đến từ khu vực Đông Bắc Á vào Việt Nam không ngừng gia tăng. Điển hình là quan hệ hợp tác, đầu tƣ giữa Việt Nam với các nhà đầu tƣ đến từ Nhật Bản tăng mạnh trong những năm gần đây, cụ thể là kim ngạch ngoại thƣơng song phƣơng năm 2012 đạt 25,9 tỷ đô la Mỹ, tăng 5,6 lần so với 10 năm trƣớc. Bên cạnh đó, hoạt động đầu tƣ trực tiếp của Nhật Bản để thực hiện các dự án đầu tƣ tại Việt Nam cũng không ngừng gia tăng, từ 234 dự án đầu tƣ mới trong năm 2011, thì đến năm 2012 con số này đã tăng lên 317 dự án đƣợc cấp phép (chiếm 51% tổng vốn đầu tƣ nƣớc ngoài), với tổng vốn đầu tƣ đăng ký là 7,8 tỷ đô la Mỹ1. Trong đó, vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài của Nhật Bản ở Việt Nam tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến và chế tạo.
Đây là lĩnh vực mà các doanh nghiệp Nhật Bản có thế mạnh và phù hợp với định hƣớng phát triển của Việt Nam. 1 Tạp chí cộng sản, 2013. Đầu tƣ trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam sau khủng hoảng tài chính toàn cầu.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=23664&print=true>.[Ngày truy cập: 23 tháng 9 năm 2013] 123doc 2 Với các nhà đầu tƣ đến từ Hàn Quốc, nƣớc ta luôn xác định đây là đối tác thƣơng mại đầu tƣ quan trọng. Kim ngạch thƣơng mại hai chiều đã tăng gần 42 lần, từ 0,5 tỷ đô la Mỹ năm 1992 lên đến 21 tỷ đô la Mỹ năm 2012, vƣợt trƣớc cam kết phải tới năm 2015 (20 tỷ đô la Mỹ).
Cũng tới năm 2012, Hàn Quốc là đối tác thƣơng mại lớn thứ 4 của Việt Nam. Trong số 52 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tƣ tại Việt Nam tính đến thời điểm tháng 10 năm 2013, thì Hàn Quốc đứng vị trí thứ hai với 3.480 dự án, tổng vốn đầu tƣ đăng ký cấp mới và tăng thêm là 4,019 tỷ đô la Mỹ, chiếm 20,9% tổng vốn đầu tƣ chỉ sau Nhật Bản. Trong thời gian tới, quan hệ Việt Nam và Hàn Quốc sẽ bƣớc sang giai đoạn hợp tác phát triển mới khi các bên cùng thống nhất nâng mức kim ngạch thƣơng mại hai chiều đạt 70 tỷ đô la Mỹ vào năm 20202. Bên cạnh Nhật Bản và Hàn Quốc, Trung Quốc cũng hiện đang là đối tác thƣơng mại, đầu tƣ lớn của Việt Nam.
Tính đến tháng 9 năm 2013, Trung Quốc đã có gần 940 dự án đầu tƣ vào Việt Nam, với tổng vốn đầu tƣ đạt gần 5 tỷ đô la Mỹ. Riêng các nhà đầu tƣ Trung Quốc (Đài Loan), tổng vốn đầu tƣ đăng ký là 28,5 tỷ đô la Mỹ, với 41 dự án đầu tƣ chủ yếu trong các lĩnh vực: gia công chế biến và sản xuất chế tạo, trong đó các ngành dệt may, công nghiệp da giày, mộc gia dụng[3][4]. Tại Đồng Nai, theo số liệu thống kê 06 tháng đầu năm 2013, Tỉnh đứng thứ năm trong cả nƣớc về tổng vốn đầu tƣ đăng ký là 18.378,11 triệu đô la Mỹ, với 1.136 dự án đang triển khai và hoạt động trải khắp 31 Khu Công nghiệp trên địa bàn Tỉnh. Nguồn vốn đầu tƣ vào các dự án đăng ký thực hiện cũng chủ yếu là từ các quốc gia châu Á, đặc biệt là các nhà đầu tƣ đến từ Đông Bắc Á.
Theo đó, các dự án đăng ký mới và đầu tƣ mở rộng dự án tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai không ngừng gia tăng qua các năm. Cụ thể là từ năm 2007 đến tháng 6 năm 2013, Nhật Bản đăng ký thành lập 85 dự án đầu tƣ mới 2 Cục Xúc tiến thƣơng mại, 2013. Những dấu hiệu phấn khởi trong quan hệ kinh tế - thƣơng mại Vi ệt Nam Hàn Quốc.vn/tin-tuc/20-tin-tuc/3907 -nhng-du-hiu-phn-khi-trong-quan-h-kinh-t-thng-mi- vit-nam-han-quc. 3 Báo điện tử Chính phủ, 2013.
Việt Nam, Trung Quốc thúc đẩy hợp tác thƣơng mại, đầu tƣ.vn/Hoat-dong-cua-lanh -dao-Dang-Nha-nuoc/Viet-Nam-Trung-Quoc-thuc-day- hop-tac-thuong-mai-dau-tu/183056. 4 Báo Ngƣời lao động, 2013. Đài Loan đón đầu TPP tại Việt Nam .vn/kinh-te/dai-loan-don-dau- tpp-tai-viet-nam- 123doc 3 (với tổng vốn đầu tƣ là 1.125,63 triệu đô la Mỹ) và điều chỉnh tăng vốn 103 lƣợt (951,08 triệu đô la Mỹ); Hàn Quốc đăng ký mới 106 dự án đầu tƣ (530,82 triệu đô la Mỹ) và điều chỉnh tăng vốn 136 lƣợt (1.878,3 triệu đô la Mỹ); Trung Quốc (Đài Loan) đăng ký mới 59 dự án đầu tƣ (272,19 triệu đô la Mỹ) và điều chỉnh tăng vốn 134 lƣợt (1.266,81 triệu đô la Mỹ)5. Mặc dù trong nhiều năm gần đây, các nhà đầu tƣ Đông Bắc Á luôn đƣợc đánh giá là những đối tác chiến lƣợc quan trọng và tiềm năng trong kế hoạch phát triển kinh tế của Việt Nam nói chung và Đồng Nai nói riêng.
Tuy nhiên, kết quả hợp tác đầu tƣ vẫn chƣa tƣơng xứng với tiềm năng và đạt đƣợc kỳ vọng mà các bên đã đề ra. Chẳng hạn nhƣ về ngành nghề kinh doanh, nhiều dự án đầu tƣ vẫn chỉ dừng lại ở việc gia công, lắp ráp và sử dụng nhiều lao động phổ thông, chƣa chú trọng đầu tƣ máy móc thiết bị, ứng dụng các công nghệ sản xuất tiến tiến, hiện đại trên thế giới. Còn về quy mô đầu tƣ, các dự án ở Ðồng Nai có sự chuyển dịch theo hƣớng tăng từ 10,9 triệu USD/dự án vào năm 2011, đến nay tăng lên 12,1 triệu USD/dự án nhƣng vẫn còn thấp so với quy mô vốn bình quân toàn ngành công nghiệp là 17,1 triệu USD/dự án6. Do vậy, để không ngừng nâng cao hiệu quả và chất lƣợng nguồn vốn đầu tƣ nƣớc ngoài vào Đồng Nai trong thời gian tới, thì việc nghiên cứu, tìm hiểu nguyên nhân thu hút đầu tƣ của các nhà đầu tƣ đến từ các nƣớc Đông Bắc Á là rất quan trọng.
Điều này là cơ sở cho việc nhận diện và phát huy tiềm năng, thế mạnh của địa phƣơng, từ đó tạo nên lợi thế cạnh tranh của Đồng Nai so với các địa phƣơng khác trong hoạt động thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài không chỉ của các nhà đầu tƣ đến từ Đông Bắc Á, mà còn từ các quốc gia khác trên thế giới. Xuất phát từ thực tiễn quá trình làm việc trong lĩnh vực đầu tƣ tại Ban Quản lý các khu công nghiệp Đồng Nai và hiện trạng thu hút đầu tƣ đã nêu trên, tác giả quyết định thực hiện đề tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước Đông Bắc Á vào các Khu Công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai” làm luận văn tốt nghiệp cao học. 5 Số liệu thống kê từ Ban Quản lý các Khu công nghiệp Đồng Nai 6 Báo Nhân dân điện tử, 2013. Chuyển dịch trong thu hút vốn FDI ở Ðồng Nai.vn/kinhte/tin-tuc/item/21998502-chuyen-dich-trong-thu-hut-von-fdi-o-%C3%B0ong- nai.2 Mục tiêu nghiên cứu - Mục tiêu tổng quát: Nhận diện, khám phá các nhân tố có ảnh hƣởng đến đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài của các nhà đầu tƣ Đông Bắc Á vào các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai.
- Mục tiêu cụ thể: Xác định những nhân tố ảnh hƣởng đến quyết định đầu tƣ của các nhà đầu tƣ Đông Bắc Á vào các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai.3 Đối tƣợng, phạm vi và nội dung nghiên cứu - Đối tƣợng nghiên cứu: các nhân tố ảnh hƣởng đến đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài của các nhà đầu tƣ đến từ các nƣớc Đông Bắc Á vào các Khu Công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. - Đối tƣợng khảo sát: các chủ đầu tƣ, ban lãnh đạo các doanh nghiệp, dự án có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài của các nhà đầu tƣ đến từ các nƣớc Đông Bắc Á đang hoạt động tại các Khu Công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. - Phạm vi nghiên cứu: việc điều tra, thu thập thông tin sơ cấp từ các dự án có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài của các nhà đầu tƣ đến từ các nƣớc Đông Bắc Á tại các khu công nghiệp Đồng Nai. Cuộc điều tra, khảo sát, thu thập dữ liệu đƣợc tiến hành trong năm 2013.4 Phƣơng pháp nghiên cứu Phƣơng pháp định tính: Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng nhằm khám phá, tìm ra những yếu tố tác động đến quyết định đầu tƣ bằng cách lấy ý kiến các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực đầu tƣ; đồng thời tổ chức thảo luận tay đôi với đại diện cho các doanh nghiệp, dự án có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài của các nhà đầu tƣ Đông Bắc Á đăng ký thực hiện tại các khu công nghiệp ở Đồng Nai.
Kết quả thu đƣợc sẽ đƣợc phối hợp với cơ sở lý thuyết để xác lập mô hình nghiên cứu, điều chỉnh các biến quan sát trong thang đo phù hợp cho nghiên cứu định lƣợng ở bƣớc tiếp theo. Phƣơng pháp định lƣợng: Thực hiện phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng nhằm để kiểm định mô hình lý 123doc 5 thuyết đã đƣợc xây dựng và đƣợc hiệu chỉnh thông qua nghiên cứu sơ bộ. Nghiên cứu đƣợc thực hiện bằng phƣơng pháp phỏng vấn trực tiếp các nhà đầu tƣ, hoặc đại diện chủ đầu tƣ - nhà điều hành doanh nghiệp có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài của các nhà đầu tƣ đến từ các nƣớc Đông Bắc Á (chủ đầu tƣ, thành viên ban giám đốc, ban quản lý dự án) đang hoạt động đầu tƣ, kinh doanh tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai thông qua bảng câu hỏi đƣợc thiết kế dựa trên kết quả của các bƣớc nghiên cứu trƣớc. Kết quả khảo sát sẽ đƣợc tập hợp và làm sạch, sau đó sẽ đƣợc mã hóa, nhập liệu vào phần mềm xử lý dữ liệu thống kê SPSS 16.