đặt vấn đề kiểm soát rủi ro trong hoạt động cho vay lên hàng đầu. Để nhận biết tình hình tài chính một khách hàng là tốt hay xấu, từ đó dẫn đến những khoản vay của khách hàng được hoàn trả có đầy đủ và đúng hạn hay không, các ngân hàng thường sử dụng nhiều phương pháp và kỹ thuật khác nhau để kiểm tra và theo dõi thường kỳ. Một trong những tiêu chí để ngân hàng nhận biết sức khỏe tài chính khách hàng đó là dấu hiệu báo trước sự phá sản. Hoạt động của doanh nghiệp được xem như chấm hết khi phá sản, dẫn đến toàn bộ những khoản vay của khách hàng này sẽ là khoản nợ khó đòi đối với các ngân hàng.
Do đó tìm ra công cụ nhận biết dầu hiệu phá sản được nhiều ngân hàng và nhà nghiên cứu tài chính doanh nghiệp quan tâm. Trong những năm 1946-1965, Mô hình chỉ số Z đã được giáo sư Redward I. Altman, trường kinh doanh Leonard N. Stern, thuộc trường Đại học New York, phát minh thông qua việc phân tích một số lượng lớn các công ty tại Mỹ.
Đây là 8 công cụ nhằm phát hiện nguy cơ phá sản của các công ty, được phát minh tại Mỹ nhưng hầu hết vẫn được các nước áp dụng với độ tin cậy khá cao. Các ngân hàng áp dụng mô hình chỉ số Z để phân loại rủi ro tín dụng và cho điểm tín dụng đối với các doanh nghiệp vay vốn. Chỉ số Z bao gồm 5 chỉ số tài chính với các trị số thể hiện tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay, phân loại theo từng loại hình và ngành doanh nghiệp: X1 = Tỷ số Vốn lưu động trên Tổng tài sản (Working Capitals/Total Assets) X2 = Tỷ số Lợi nhuận giữ lại trên Tổng tài sản (Retain Earnings/Total Assets) X3 = Tỷ số Lợi nhuận trước thuế và lãi vay trên Tổng tài sản (EBIT/Total Assets) X4 = Tỷ số Giá trị thị trường của Vốn chủ sở hữu trên Giá trị sổ sách của Tổng nợ (Market Value of Total Equity/Book Values of Total Liabilities) X5 = Tỷ số Doanh số/Tổng Tài sản (Sales/Total Assets) Chỉ số Z càng cao thì xác suất vỡ nợ càng thấp. Khi chỉ số thấp hoặc là số âm sẽ là căn cứ xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao.
Chỉ số Z của Altman được mô tả cho các doanh nghiệp cổ phần hóa ngành sản xuất như sau: Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 0,999X5 • Nếu Z>2,99: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản. • Nếu 1,8<Z<2,99: Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản. • Nếu Z<1,8: Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao. Theo mô hình này, bất cứ doanh nghiệp cổ phần hóa thuộc ngành sản xuất nào có điểm số thấp hơn 1,81 phải được xếp vào nhóm có nguy cơ rủi ro tín dụng cao.
9 Chỉ số Z’ của Altman được mô tả cho các doanh nghiệp chưa cổ phần hóa ngành sản xuất như sau: Z’ = 0,717X1 + 0,847X2 + 3,107X3 + 0,42X4 + 0,998X5 • Nếu Z’>2,9: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản. • Nếu 1,23<Z’<2,9: Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản. • Nếu Z’<1,23: Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao. Theo mô hình này, bất cứ doanh nghiệp chưa cổ phần hóa thuộc ngành sản xuất nào có điểm số thấp hơn 1,23 phải được xếp vào nhóm có nguy cơ rủi ro tín dụng cao.
Chỉ số Z’’ của Altman được mô tả cho các doanh nghiệp khác như sau: Z’’ = 6,56X1 + 3,26X2 + 6,72X3 + 1,05X4 • Nếu Z’’>2,6: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản. • Nếu 1,1<Z’’<2,6: Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản. • Nếu Z’’<1,1: Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao. Chỉ số Z’’ được dùng cho hầu hết các ngành, các loại hình doanh nghiệp nên X5 được loại ra do có sự khác biệt khá lớn giữa các ngành, các hình thức doanh nghiệp.
Ngoài ra, Altman cũng phát minh ra chỉ số Z’’ điều chỉnh bằng chỉ số Z’’+3,25. Công thức của Z’’ điều chỉnh được mô tả như sau: 10 Z’’ điều chỉnh = 3,25 + 6,56X1 + 3,26X2 + 6,72X3 + 1,05X4 Do chỉ số Z’’ điều chỉnh được cộng thêm một hằng số là 3,25 nên vùng cảnh báo dấu hiệu phá sản của Z’’ điều chỉnh cũng sẽ tăng lên 3,25 so với chỉ số Z’’. Chỉ số Z’’ điều chỉnh có sự tương đồng khá lớn với xếp hạng tín nhiệm của Standard & Poor: Bảng 1.2: Bảng so sánh chỉ số Z’’ điều chỉnh với xếp hạng tín nhiệm của Standard & Poor Định mức tín nhiệm Z'' điều chỉnh của Standard&Poor >8,15 AAA 7,60-8,15 AA+ 7,30-7,60 AA Doanh nghiệp nằm trong 7,00-7,30 AA- vùng an toàn, chưa có nguy 6,85-7,00 A+ cơ phá sản 6,65-6,85 A 6,4-6,65 A- 6,25-6,4 BBB+ 5,85-6,25 BBB 5,65-5,85 BBB- 5,25-5,65 BB+ Doanh nghiệp nằm trong 4,95-5,25 BB vùng cảnh báo, có thể có 4,75-4,95 BB- nguy cơ phá sản 4,5-4,75 B+ 4,15-4,5 B 3,75-4,15 B- Doanh nghiệp nằm trong 3,20-3,75 CCC+ vùng nguy hiểm, nguy cơ 2,50-3,20 CCC phá sản cao. 1,75-2,50 CCC- 0-1,75 D (Nguồn: www.2 Phương pháp ước tính tổn thất tín dụng dựa trên hệ thống cơ sở dữ liệu đánh giá nội bộ IRB Mô hình đánh giá khả năng tổn thất tín dụng của khách hàng vay dựa trên hệ thống cơ sở dữ liệu nội bộ được đề nghị áp dụng tại Hiệp định về tiêu chuẩn vốn quốc tế 11 của Ủy ban Basel, gọi tắt là Basel II.
Hiệp định này được xây dựng vào tháng 6 năm 2004, theo đó các ngân hàng có thể sử dụng mô hình dựa trên hệ thống dữ liệu nội bộ để đánh giá rủi ro tín dụng đối với các khách hàng vay vốn. Với mỗi kỳ hạn xác định, tổn thất ước tính về tín dụng được tính toán theo công thức: EL = PD × EAD × LGD Tổn thất tín dụng phụ thuộc vào 3 biến số: xác suất khách hàng không trả được nợ PD (Probability of Default), tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ EAD (Exposure at Default) và tỷ trọng tổn thất ước tính LGD (Loss Given Default). PD - xác suất không trả được nợ: Cơ sở để xác định PD là dữ liệu về các khoản nợ trong quá khứ trong vòng 5 năm trước đó của khách hàng, bao gồm các khoản nợ đã trả, khoản nợ trong hạn và khoản nợ không thu hồi được. Dữ liệu được phân thành 3 nhóm chính: Dữ liệu tài chính liên quan đến các hệ số tài chính của khách hàng cũng như đánh giá của các tổ chức xếp hạng.
Dữ liệu phi tài chính (định tính) liên quan đến trình độ quản lý, khả năng nghiên cứu, phát triển sản phẩm mới và các dữ liệu về khả năng tăng trưởng của ngành… Dữ liệu mang tính cảnh báo liên quan đến các hiện tượng báo hiệu khả năng không trả được nợ cho ngân hàng như số dư tiền gửi, hạn mức thấu chi. Các dữ liệu này sẽ được đưa vào một mô hình định sẵn để tính xác suất không trả được nợ của khách hàng. Đó có thể là mô hình probit, mô hình tuyến tính…và thường được các tổ chức tư vấn chuyên nghiệp xây dựng. EAD - tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ: 12 Việc xác định EAD đối với các khoản vay theo hạn mức tín dụng hoặc tín dụng tuần hoàn phức tạp hơn so với các khoản vay có kỳ hạn.
Theo thống kê của Ủy ban Basel, các khách hàng sẽ có xu hướng rút vốn vay xấp xỉ bằng hạn mức được cấp tại thời điểm khách hàng không trả được nợ. Do đó xác định EAD được tính theo công thức sau: EAD = dư nợ bình quân + LEQ×HMTD chưa sử dụng bình quân LEQ×HMTD chưa sử dụng bình quân chính là phần dư nợ khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả được nợ ngoài mức dư nợ bình quân, trong đó LEQ là tỷ trọng phần vốn chưa sử dụng có nhiều khả năng sẽ được khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả được nợ. LEQ có vai trò quan trọng trong việc xác định chính xác dư nợ của khách hàng tại thời điểm không trả được nợ và được xác định dựa trên dữ liệu quá khứ. Tuy nhiên trên thực tế việc xác định LEQ thường gặp khó khăn, đặc biệt đối với những khách hàng có uy tín, trả nợ đầy đủ và hiếm khi rơi vào tình trạng không trả được nợ hoặc đối với những yếu tố khác như loại hình kinh doanh của khách hàng, khả năng tiếp cận thị trường tài chính của khách hàng, quy mô hạn mức tín dụng, tỷ lệ dư nợ đang sử dụng so với hạn mức,… LGD – tỷ trọng tổn thất ước tính: Tỷ trọng tổn thất ước tính là tỷ trọng phần vốn bị tổn thất trên tổng dư nợ tại thời điểm khách hàng không trả được nợ.
Phần vốn bị tổn thất này không chỉ bao gồm khoản vay mà gồm cả các tổn thất khác phát sinh khi khách hàng không trả được nợ: lãi suất đến hạn nhưng không được thanh toán, các chi phí hành chính có thể phát sinh như chi phí xử lý tài sản thế chấp, các chi phí cho dịch vụ pháp lý và một số chi phí liên quan. LGD = (EAD – số tiền có thể thu hồi)/EAD Theo công thức trên, số tiền có thể thu hồi bao gồm các khoản tiền mà khách hàng trả và các khoản tiền thu được từ xử lý tài sản thế chấp, cầm cố. Theo thống kê của Ủy ban Basel, tỷ lệ thu hồi vốn thường có giá trị hoặc rất cao từ 70% đến 80% 13 hoặc rất thấp từ 20% đến 30%. Do đó chúng ta không nên sử dụng tỷ lệ thu hồi vốn bình quân.
Hai yếu tố ảnh hưởng quyết định đến khả năng thu hồi vốn của ngân hàng khi khách hàng không trả được nợ là tài sản đảm bảo của khoản vay và cơ cấu tài sản của khách hàng. Trong đó cơ cấu tài sản của khách hàng được hiểu là thứ tự ưu tiên trả nợ khác nhau của các khoản phải trả trong trường hợp doanh nghiệp phá sản 1.4 Kinh nghiệm tại các nước 1.1 Kinh nghiệm tại Malaysia Tháng 11 năm 1990, cơ quan định mức tín nhiệm đầu tiên của Malaysia là Rating Agency of Malaysia, gọi tắt là RAM ra đời. Đến năm 1992, ngân hàng trung ương Malaysia ủy quyền cho RAM xếp hạng tín nhiệm cho tất cả chứng khoàn nợ của các công ty khi phát hành ra công chúng.