lời mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, mục lục, nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chương: C hương 1. Những nội dung cơ bản của nghiệp vụ thị trường mở. Điều kiện hình thành và phát triển nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước Lào. Hoàn thiện điều kiện phát triển nghiệp vụ thị trường m ở của Ngân hàng Nhà nước Lào.
5 ĩ C hương 1 NHỮNG NỘI DUNG c ơ BẢN CỦA NGHIỆP • VỤ• THỊ• TRƯỜNG MỞ 1. K H Á I N IỆM V À C O CH Ế TÁC Đ Ộ N G N G H IỆP v ụ TH Ị TRƯỜNG M Ở 1. K hái niệm nghiệp vụ thị trường m ở Theo các biểu trung nhất thì khái niệm “Nghiệp vụ thị trường mở“ là hoạt động mua bán giấy tờ có giá giữa Ngân hàng Trung ưong với các đối tác được lựa chọn để qua đó tác động tới lãi suất của thị trường hoặc dự trữ của các đối tác này, vì thế có thể ảnh hưởng tới các điều kiện tiền tệ của nền kinh tế thông qua những ảnh hưởng về mặt lượng và giá cả. Thuật ngữ “Thị trường mở“ ở đây được hiểu là một thị trường có tính chất mở, nghĩa là đa dạng với các đổi tác tham gia thị trường và đa dạng về các loại giao dịch trên thị trường.
Nghiệp vụ thị trường mở (OMO) được ngân hàng Anh áp dụng đầu tiên từ năm 1914 trong nỗ lực tìm kiếm công cụ có hiệu quả hcm để điều chỉnh lãi suất thị trường theo hướng mong muốn. OMO là một trong các công cụ CSTT có hiệu quả cao và hiện đang được các nước trên thế gới sử dụng. Mặc dù OMO được sử dụng phô biên nhưng việc đưa ra một khái niệm chung là không thống nhất, sự không thông nhất này thể hiện ở sự khác nhau về hàng hóa giao dịch các đối tác tham gia thị trường và các loại giao dịch trên thị trường. Các GTCG được sử dụng trên thị trường mở là các giấy tờ có giá ngắn hạn và dài hạn như tín phiếu, trái phiếu chính phủ, Tín phiếu NHTW, trái 6 phiếu doanh nghiệp, trái phiếu ngân hàng.
các chủ thể của thị trường mở là NHTW và các đổi tác chủ yếu là các ngân hàng, và có thể là các đổi tác tài chính tín dụng phi ngân hàng. Xét về mặt hình thức, thị trường mở là thị trường giao dịch các chứng khoán nợ cả ngắn hạn và dài hạn. Tuy nhiên khác với các khái niệm có phạm vi và loại hình công cụ rõ ràng như thị trường chứng khoán hay thị trường tiền tệ, thị trường mở ở các nước khác nhau lại khác nhau về phạm vi loại hình công cụ và thời hạn của các công cụ giao dịch trên thị trường. Đôi với một số nước, hàng hóa giao dịch trên thị trường mở chỉ gồm các GTCG ngắn hạn và đổi tác tham gia chỉ là các TCTD.
Khi đó, thị trường mở là một bộ phần của thị trường tiền tệ. Đối với các nước khác như Mỹ, Đức thì các GTCG dài hạn cũng có thể giao dịch, khi đó thị trường mở boa gồm cả một phần của thị trường chứng khoán. Điều đó có nghĩa là các giới hạn, quy định khác nhau về hàng hóa và đối tác tham gia OMO của NHTW sẽ quyêt định khái niệm cụ thể về thị trường mở ở từng nước. Tóm lại: Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động mua bán giấy tò có giá giữa Ngân hàng Trung ương và các tổ chức tín dụng.
Thông qua hoạt động mua bán giấy tờ có giá. Ngân hàng Trung ương tác động trực tiêp đên trữ hệ thống các tổ chức tín dụng và tác động gián tiêp đên lãi suât thị trường. Như vậy Ngân hàng Trung ương có thể tác động đên hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng cả về mặt số lượng và về giá. Khi Ngân hàng Trung ương mua giấy tờ có giá trên thị trường mở làm tăng dự trữ của ngân hàng, từ đó làm tăng tiền cơ bản và tăng tiền cung ứng.
ngược lại khi Ngân hàng Trung ương bán giấy tờ có giá trên thị trường mở làm giảm dự trữ của hệ thống ngân hàng và đồng thời cũng làm giảm tiền cơ bản và giảm tiền cung ứng, các giấy tờ có giá thường giao dịch ngắn hạn trên thị trường là giây tờ có giá ngắn và dài hạn như trái phiếu kho bạc trái phiếu chính phủ, tín phiêu, trái 7 phiếu ngân hàng. tổ chức tham gia giao dịch nghiệp vụ thị trường mở trước hết là Ngân hàng Trung ương và các đổi tác chủ yểu là ngân hàng và có thể là các tổ chức tài chính phi ngân hàng. C ơ chế tác động nghiệp vụ thị trường m ở Thông qua hoạt động mua và bán các giây tờ có giá trên thị trường mở, Ngân hàng Trung ương đã tác động trực tiếp đến dự trữ của các Ngân hàng và ảnh hưởng gián tiếp đến các mức lãi suất trên thị trường, từ đó tác động trực tiếp đến mục tiêu của chính sách tiền tệ cả vê mặt giá và lượng và sự phát triển của hệ thống thị trường tài chính và khả năng kiểm soát của NHTW một số chỉ tiêu định lượng được lựa chọn sử dụng làm mục tiêu kiểm soát và hình thành hệ thống mục tiêu điều hành CSTT của NHTW, bao gôm mục tiêu cuối cùng, mục tiêu trung gian và các mục tiêu hoạt động. Việc lựa chọn hệ thống mục tiêu CSTT phù họp được quyết định bởi tính cấp thiết của mục tiêu, khả năng đạt được mục tiêu và mức độ đánh đổi giữa các mục tiêu được lựa chọn.
Tài hậu hết NHTW các nước phát triên, CSTT có xu hướng theo đuổi mục tiêu cuôi cùng là ôn định giá cả trong môi quan hệ thích hợp với mức độ tăng trường kinh tế và giảm tỷ lệ thất nghiệp và sự phát triển của hệ thống thị trường tài chính và khả năng kiểm soát của NHTW một số chỉ tiêu định lượng được lựa chọn sử dụng làm mục tiêu kiểm soát và hình thành hệ thống mục tiêu điều hành CSTT của NHTW, bao gôm mục tiêu cuối cùng, mục tiêu trung gian và các mục tiêu hoạt động. Việc lựa chọn hệ thống mục tiêu CSTT phù họp được quyết định bởi tính cấp thiết của mục tiêu, khả năng đạt được mục tiêu và mức độ đánh đôi giữa các mục tiêu được lựa chọn. Tài hậu hêt NHTW các nước phát triên, CSTT có xu hướng theo đuổi mục tiêu cuối cùng là ôn định giá cả trong môi quan hệ thích hợp với mức độ tăng trường kinh tế và giảm tỷ lệ thất nghiệp. Cơ chế kiểm soát tiền tệ và công cụ chính sách tiền tệ Cơ chế kiểm soát tiền tệ là các thủ tục (hay các qui định) về quản lý được NHTW đưa ra nhằm ràng buộc và liên kết giữa hệ thống mục tiêu, công cụ và các kênh truyền dẫn CSTT, phù hợp với điều kiện kinh tê - xã hội và mức độ phát triển thị trường tài chính qua đó đạt được mục tiêu kính tế vĩ mô trong từng thời kỳ.
- Cơ chế kiểm soát tiền tệ trực tiếp a. Là cơ chế kiểm soát của NHTW thong qua việc sử dụng hệ thống các công cụ trực tiếp (hệ thống các quy định mà NHTW có thể sử dụng để tác động thẳng vào mục tiêu trung gian-lượng tiền cung ứng hay rộng hơn là khối lượng tín dụng cung ứng cho nền kính tế). Công cụ trực tiêp bao gồm: hạn mức tín dụng, tín dụng theo chỉ định, các loại lãi suât can thiệp trực tiếp. Cơ chế kiểm soát tiền tệ trực tiếp áp dụng phổ biến trong điều kiện nền kinh tế đóng, thị trường tài chính còn sơ khai và chịu sự chi phối mạnh của Chính phủ.
Công cụ chủ yếu được áp dụng trong cơ chế kiểm soát tiền tệ trực tiếp. * Hạn mức tín dụng Hạn mức tín dụng là công cụ can thiệp trực tiếp của NHTW để khổng chế mức tăng khối lượng tín dụng cung ứng cho nên kinh tê của hệ thông ngân hàng, đảm bảo mức tăng trưởng của tổng phương tiền thanh toán theo mục tiêu đề ra. Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà NHTW buộc các ngân hàng phải tôn trọng khi cấp tín dụng chop nền kinh tê. Mức dư nợ qui định cho từng ngân hàng căn cứ vào đặc diêm kinh doanh của ngân hàng, định hướng cơ cấu kinh tế và giới hạn tổng dư nợ tín dụng dự tính của toàn bộ nền kinh tế trong một thời gian xác định, qua đó khống chế tổng lượng tiền cung ứng cho nền kinh tê, nên cơ chê tác động của nó mang tính áp đạt 9 của NHTW đối với hệ thống ngân hàng.
*Tín dụng theo chỉ định Trong một số trường hợp, NHTW thực hiện tái cấp vốn cho các ngân hàng để cho vay thực hiện các mục tiêu theo chỉ định của Chính phủ. Mục đích của các khỏan tái cấp vốn này là nhằm thực hiện các chương trình phát triển kinh tế của Chính phủ, một số ngành nghề cần khuyến khích đầu tư hoặc để hỗ trợ một số đối tượng nhất định như các khách hàng của tổ chức tín dụng bị thiệt hại do thiên tai bất khả kháng, dự trữ vật tư chiến lược, hồ trợ sản xuất. thời gian cho vay tùy thuộc vào thời gian cần hỗ trợ khách hàng và lãi suất thường được ưu đãi, có lúc áp dụng mức 0%. Thông thường các khoán vay này không phải áp dụng các biện pháp đảm bảo tiền vay.
Các loại lãi suất can thiệp trực tiếp Trong điều kiện thị trường tiền tệ kém phát triên, NHTW thường can thiệp trực tiếp vào hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại thong qua các hình thức như: ẩn định mức lãi suấtcụ thể, đưa ra khung lãi suất, trần lãi suất, sàn lãi suất hoặc lãi suất cơ bản. nhằm kiểm soát các mục tiêu tiền tệ trung gian như mức tăng tông phương tiên thanh toán, tăng trường tín dụng và lãi suất cho vay. Thông thường, ngân hàng trùn ương sử dụng các lãi suất chủ yếu sau: + Lãi suất huy động “Sàn”: là mức lãi suất huy động tối thiểu do NHTW quy định đối với lãi suất huy động của các TCTD. + Lãi suất huy động “trần” là mức lãi suất huy động tối đa do NHTW quy định đối với lãi suất huy động của các TCTD.
+ Lãi suất “trần” cho vay là mức lãi suất cho vay tối đa do NHTW quy định đối với lãi suất cho vay của TCTD. + Lãi suất cơ bản là lãi suất do NHTW công bô làm cơ sở cho các TCTD ấn định lãi suất kinh doanh. 10 - Cơ chế kiểm soát tiền tệ giản tiếp a.