Đặt vấn đề Nghèo đói là trong những vấn nạn và thách thức chính của mỗi quốc gia vì nó gây ra cho con người những khó khăn, chật vật và thiếu thốn trong cuộc sống về mọi mặt như chăm sóc về y tế, giáo dục,v. từ đó có thể thúc đẩy con người phạm tội ác và thậm chí tự sát. Nghèo đói thường xảy ra đối với những người có thu nhập thấp trong xã hội đặc biệt là vùng nông thôn tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn khá cao do phần lớn người dân gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức do đó chủ yếu họ vay từ các nguồn không chính thức để phục vụ cho sản xuất cũng như tiêu dùng điều đó dẫn đến thực tế là họ có thể rơi vào nợ sâu và vỡ nợ. Trong thời gian qua, nhận thức sâu sắc được vấn đề này Việt Nam đã không ngừng nổ lực, đẩy mạnh thực hiện các biện pháp xóa đói giảm nghèo như hỗ trợ vốn, cây giống, vật nuôi để người nghèo có điều kiện tham gia sản xuất, vươn lên thoát nghèo.
Tỉnh Bến Tre hòa trong xu hướng chung nhằm cải thiện đời sống của những người nghèo trong Tỉnh, những năm gần đây nhiều chương trình, dự án xóa đói giảm nghèo đã được các cấp lãnh đạo quan tâm, tiến hành triển khai và thực hiện rộng rãi ở nhiều địa phương cụ thể là dự án phát triển kinh doanh với người nghèo nông thôn tỉnh Bến Tre (gọi tắt là DBRP Bến Tre) được chính phủ Việt Nam và Quỹ Quốc tế về Phát triển Nông nghiệp (IFAD) ký vào tháng 1/2008 mục tiêu cuối cùng của dự án là nhằm giảm nghèo bền vững và công bằng cho người nghèo nông thôn góp phần phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống cho người dân của Tỉnh. Dự án cũng đã được khảo sát đánh giá trên đối tượng là các hộ nông nghiệp – nông thôn và các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp (Báo cáo dữ liệu khảo sát của hệ thống theo dõi đánh giá M&E, 2011). Đặc biệt trong số các dự án xóa đói giảm nghèo đó là sự ra đời của “Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế tỉnh Bến Tre” nói chung và huyện Ba Tri nói riêng vào ngày 2 28/6/2013. Là cột mốc quan trọng góp phần mang đến niềm vui cho những phụ nữ nghèo, thu nhập thấp, thiếu vốn sản xuất tại huyện Ba Tri.
Trải qua nhiều năm hoạt động, “Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế huyện Ba Tri” đã không ngừng mở rộng phạm vi ra các xã của huyện, tìm kiếm và hỗ trợ kịp thời các đối tượng để cho vay là những hộ nghèo, cận nghèo, những người có thu nhập thấp, hoàn cảnh khó khăn và thiệt thòi trong xã hội, đặc biệt là phụ nữ nhằm mục đích tạo việc làm, tăng thu nhập, hạn chế vay nặng lãi cũng như chơi hụi cho người nghèo nói chung và phụ nữ của huyện Ba Tri nói riêng. Với những thành công đã đạt được thì hoạt động của Quỹ cũng còn gặp nhiều khó khăn như số lượng thành viên trong quý I/2017 không đạt được mục tiêu so với kế hoạch, nhiều thành viên rời khỏi quỹ, một số gặp khó khăn trong nghĩa vụ trả nợ (Báo cáo tổng kết của Hội LHPN huyện Ba Tri Quý I, 2017). Đặc biệt là còn một số lượng lớn các thành viên có thu nhập không thay đổi được đánh giá qua khảo sát 160 thành viên vay vốn của Quỹ cho thấy mục tiêu cải thiện thu nhập của các hộ gia đình chưa thật sự có hiệu quả vì có hơn 50% chị em vay vốn có thu nhập không thay đổi so với trước đây. Như vậy đâu là những nguyên nhân tác động đến thu nhập của các thành viên vay vốn và ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của Quỹ thì đề tài “Đánh giá tác động của Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế huyện Ba Tri đến thu nhập của các thành viên vay vốn” sẽ góp phần giải quyết vấn đề này.
Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá tình hình hoạt động của Quỹ trong thời gian qua; - Đánh giá tác động của quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế đến chi tiêu, tiết kiệm và thu nhập bình quân của các hộ nhận vốn; - Chỉ ra những nguyên nhân và yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập bình quân của các thành viên vay vốn từ Quỹ; - Đề xuất giải pháp và kế hoạch triển khai thực hiện để góp phần cải thiện thu nhập cho các gia đình vay vốn. Câu hỏi nghiên cứu - Trong thời gian qua “Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế của huyện Ba Tri” hoạt động như thế nào? - Đâu là nguyên nhân và là những yếu tố tác động mạnh đến thu nhập bình quân của các gia đình nhận vốn từ Quỹ? - Những biện pháp nào nên được đề xuất và triển khai thực hiện nhằm góp phần cải thiện thu nhập của những thành viên vay vốn? 1. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp chọn mẫu và thu thập số liệu Quy mô mẫu: Tiếp cận theo phương pháp định lượng dựa vào mô hình hồi quy. Theo Green (1999) và Tabachnick & Fidell (2007) nếu dữ liệu là dạng chéo thì quy mô mẫu được xác định là: n 50 + 8k; với k là số biến độc lập trong mô hình.
Như vậy kích thước mẫu được chọn là n 50 + 8 x 6 = 98 tuy nhiên để đảm bảo mức độ tin cậy và đại diện đề tài sẽ tiến hành khảo sát 160 thành viên vay vốn của Quỹ được sử dụng cho mục đích sản xuất dựa vào giấy đề nghị cấp tín dụng. Việc thu thập số liệu trong đề tài được tiến hành từ quá trình điều tra phỏng vấn trực tiếp các cán bộ tín dụng và 160 thành viên vay vốn của Quỹ. Đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu xác suất và phân tầng theo danh sách các thành viên vay vốn của Quỹ trong các năm 2012, 2013, 2014, 2015 và 2016 và đến đầu năm 2017 vẫn còn sử dụng vốn. Nghiên cứu chọn 6 xã của huyện có số lượng thành viên vay vốn tương đối nhiều bao gồm các xã Tân Hưng, An Ngãi Tây, An Đức, An Hòa Tây, Tân Thủy và Bảo Thuận để tiến hành phỏng vấn trực tiếp qua phiếu điều tra.
- Phương pháp xử lý số liệu + Sau quá trình khảo sát, thu thập thông tin tác giả đã tiến hành xử lý thống kê bằng phương pháp thống kê kết hợp với thống kê mô tả để đánh giá hoạt động cũng như tác động của Quỹ đến các hộ gia đình vay vốn. + Song song đó đề tài còn sử dụng phần mềm Stata nhằm hỗ trợ việc phân tích số liệu và mô hình hồi quy probit để lượng hóa các yếu tố tác động đến thu nhập của các hộ gia đình vay vốn từ Quỹ. Mô hình chọn biến phụ thuộc là xác suất 4 tăng thu nhập của các thành viên vay vốn, đây là biến không liên tục và nhận hai giá trị 0 và 1 nên đề tài sử dụng mô hình probit. ey Hàm probit có dạng: P = 1 ey Với y = i X i ( và X là các vector) P thể hiện thu nhập bình quân của hộ vay vốn: P = 0 thu nhập không thay đổi và P = 1 thu nhập tăng.
Xi là các biến độc lập ảnh hưởng đến thu nhập của gia đình các thành viên vay vốn từ Quỹ bao gồm tuổi của thành viên vay vốn, số người phụ thuộc trong gia đình, số năm vay, mức vay, việc tham gia các chương trình tập huấn và tài sản được hình thành từ thu nhập của nguồn vốn dự án. 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG VI MÔ VÀ MỘT SỐ MÔ HÌNH HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ 2. KHÁI QUÁT VỀ TÍN DỤNG VI MÔ “Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế” là một trong những chương trình do Hội LHPN trực tiếp điều hành với hoạt động chủ yếu là cung cấp các khoản tín dụng vi mô hướng vào người nghèo, thu nhập thấp nhằm mục tiêu cải thiện mức sống bằng việc tạo thu nhập và việc làm. Theo Ngân hàng Grameen (Bangladesh): “Tín dụng vi mô là những khoản cho vay nhỏ được cấp cho người nghèo để họ thực hiện phương án kinh doanh của chính mình nhằm tạo ra thu nhập cho bản thân và nuôi sống gia đình.
Khách hàng mục tiêu bao gồm những phụ nữ kinh doanh tại gia có thu nhập thấp và các khoản cho vay không có tài sản đảm bảo”. Cùng với quan điểm trên Microcredit Summit Campaign cho rằng: “Tín dụng vi mô là chương trình cung cấp tín dụng cho cá nhân và các dịch vụ tài chính, kinh doanh khác (bao gồm tiết kiệm và hỗ trợ kĩ thuật) đối với các cá nhân rất nghèo”. Theo The Microcredit Sumit (1997) thì “Tín dụng vi mô còn được xem là chương trình mở rộng các khoản cho vay nhỏ đối với người nghèo giúp họ tự thực hiện dự án để tạo ra thu nhập, tự chăm sóc bản thân và gia đình”. Hay với Otero (1999) đã phát biểu: “Tín dụng vi mô là việc cung cấp các dịch vụ tài chính cho người có thu nhập thấp và rất nghèo.
Các dịch vụ tài chính nói chung bao gồm tiết kiệm và tín dụng, nhưng cũng có thể bao gồm các dịch vụ khác như bảo hiểm và các dịch vụ thanh toán”. Mặt khác, Scheriner and Colombet (2001) đã định nghĩa: “Tín dụng vi mô là một nổ lực để cải thiện việc tiếp cận các khoản tiền gởi nhỏ và các khoản vay nhỏ cho các hộ gia đình nghèo bị các ngân hàng bỏ qua”. Hay “Tín dụng vi mô được xem như là sự gia tăng về tiết kiệm, khoản cho vay và các sản phẩm dịch vụ tài chính với số lượng nhỏ cho các hộ gia đình nghèo, cận nghèo ở khu vực thành thị và 6 bán thành thị để tăng mức thu nhập và cải thiện đời sống” (Reserve Bank of India – Master Circular, 2011). Mặc dù có nhiều quan điểm về Tín dụng vi mô nhưng tụ chung lại thì Tín dụng vi mô là các khoản cho vay nhỏ đối với các hộ gia đình nghèo, cận nghèo, có thu nhập thấp nhằm tăng thu nhập, tiết kiệm và cải thiện đời sống của bản thân và gia đình.
Nhìn chung tín dụng vi mô quan tâm đến những gia đình thiếu điều kiện vay từ nguồn vốn chính thức do không có tài sản thế chấp. Xuất phát từ đặc điểm này đã tạo ra một số hệ lụy tồn tại trong quan hệ tín dụng vi mô như bất cân xứng thông tin dẫn đến việc lựa chọn ngược hay rủi ro đạo đức dễ gây ra vỡ nợ đối với người cho vay.