Chương 1: Tổng quan, chương này giới thiệu về đề tài nghiên cứu; lý do nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu; mục tiêu và nội dung nghiên cứu; phạm vi, đối tượng nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu. Tổng quan tình hình kinh tế - xã hội của huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận. Chương 2: Cơ sở lý thuyết, chương này sẽ trình bày những cơ sở lý thuyết liên quan đến thu nhập. Nêu lại tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan đến đề 9 tài; từ đó, xác định các nhân tố tác động đến thu nhập của các nhóm hộ đồng bào dân tộc thiểu số, đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, chương này trình bày phương pháp thực hiện nghiên cứu, đưa ra mô hình nghiên cứu cho đề tài; đồng thời trình bày cách thức thu thập dữ liệu và mẫu nghiên cứu. Chương 4: Phân tích dữ liệu và trình bày kết quả nghiên cứu, phân tích thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu, phân tích kết quả của mô hình kinh tế lượng, xác định các nhân tố tác động đến thu nhập của các nhóm hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận. Từ đó, tìm ra sự khác biệt thu nhập của các nhóm hộ đồng bào dân tộc thiểu số. Chương 5: Kết luận và kiến nghị các chính sách, dựa vào kết quả nghiên cứu, tác giả gợi ý một số chính sách nhằm nâng cao thu nhập cho các nhóm hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số có những giải pháp cụ thể và khả thi nhằm nâng cao thu nhập cho hộ gia đình và từ đó nâng cao mức sống của hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.
Đồng thời cuối chương này cũng nêu ra những hạn chế của nghiên cứu cũng như đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo (nếu có). 10 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này trình bày tóm lược các khái niệm về hộ gia đình, thu nhập, thu nhập hộ gia đình. Nêu các luận cứ khoa học, tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài; xác định các nhân tố tác động đến thu nhập các nhóm hộ đồng bào dân tộc thiểu số, sự khác biệt về thu nhập giữa các nhóm hộ đồng bào dân tộc thiểu số, từ đó đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất. Một số khái niệm Hộ gia đình Phạm Anh Ngọc (2008), cho rằng hộ là tập hợp chủ yếu và phổ biến của những thành viên có chung huyết thống.
Tuy nhiên, cũng có một số thành viên trong hộ không cùng chung huyết thống nhưng cùng chung hoạt động sinh sống. Hộ là một đơn vị kinh tế, có nguồn lao động, phân công lao động; có vốn, kế hoạch sản xuất kinh doanh chung. Haviland (2003), cho rằng hộ gia đình là bao gồm một hay một nhóm người ở chung và ăn chung. Những hộ từ 2 người trở lên, các thành viên của hộ có thể có hoặc không có quỹ thu chi hoặc thu nhập chung.
Các thành viên trong hộ gia đình có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống. Vậy, hộ gia đình là một tập hợp những người cùng chung mối quan hệ với nhau, được pháp luật công nhận và phát triển kinh tế theo sự phân công lao động của hộ gia đình. Thu nhập Theo kinh tế học vi mô thì thu nhập là phần chênh lệch giữa khoản thu về và khoản chi phí đã bỏ ra do sự kết hợp giữa hai nhân tố vốn và lao động trong hoạt động sản xuất. Vốn do một bộ phận dân cư sở hữu; một bộ phận khác không có vốn, chỉ có sức lao động thì đi làm thuê cho người có vốn để nhận được một khoản tiền gọi là thu nhập.
Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO), thu nhập là sự trả công hoặc có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động hoặc bằng pháp luật, pháp quy Quốc gia, do người sử dụng lao động trả cho người lao động theo hợp đồng lao động cho một công việc hay dịch vụ đã thực hiện hoặc sẽ phải thực hiện. 11 Theo Tổng cục Thống kê (2011), định nghĩa: Thu nhập là tổng số tiền mà một người hay một gia đình kiếm được trong 1 ngày, 1 tuần, 1 tháng, cụ thể hơn là tất cả những gì mà người ta thu được khi bỏ sức lao động một cách chính đáng được gọi là thu nhập. Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng được tính bằng cách chia tổng thu nhập trong năm của hộ gia đình cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng. Tóm lại, thu nhập là khoảng tiền mà một người hay một hộ gia đình kiếm được trong lao động, sản xuất, kinh doanh ở một thời gian nhất định.
Thu nhập hộ gia đình Theo Tổng Cục Thống kê (2011), thu nhập của hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ các khoản chi phí sản xuất mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định, thường là 1 năm. Thu nhập hộ gia đình bao gồm: Thu nhập từ tiền công, tiền lương; từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản (sau khi đã trừ chi phí và thuế); từ sản xuất ngành nghề phi nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản (sau khi đã trừ chi phí và thuế); thu khác (cho, biếu, mừng, lãi tiết kiệm…). Các khoản thu không tính vào thu nhập là thu từ rút tiền tiết kiệm, thu nợ, bán tài sản, vay nợ, tạm ứng, các khoản chuyển nhượng vốn trong liên kết sản xuất kinh doanh…. Nguyễn Hải (1995), cũng cho rằng thu nhập là những khoản thu được do lao động tạo ra gồm có: tiền lương, tiền công, thù lao, thu nhập bằng tiền và hiện vật và những khoản nhận được là: phụ cấp hưu trí, trợ cấp thương tật, ốm đau, thai sản, an dưỡng, học bổng, các khoản chuyển nhượng, lãi tiết kiệm,… Tóm lại, thu nhập của hộ gia đình là số tiền kiếm được của các thành viên trong hộ gia đình trong quá trình lao động, sản xuất kinh doanh trong một thời gian nhất định.
Dân tộc Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2013), nêu rõ: “Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình. Nhà nước 12 thực hiện chính sách phát triển mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số”.
Dân tộc thiểu số Theo Nghị định số: 05 của Chính phủ Việt Nam (2011), định nghĩa: “Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”. Nghiên cứu này, đề tài chia hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số huyện Hàm Tân chia thành 02 nhóm như sau: Nhóm I gồm: Dân tộc Chăm và dân tộc Rai (Raclay). Nhóm II gồm: Dân tộc Châu Ro, dân tộc Nùng, dân tộc Mường, dân tộc Thái (Thanh), dân tộc K'ho, dân tộc Sán dìu, dân tộc Tày, dân tộc Khơme (Miên), dân tộc Hoa, dân tộc Châu Mạ và dân tộc Ê đê. Sinh kế Tại hội nghị thế giới vì môi trường và phát triển năm 1987, Brundlanh cho rằng: Sinh kế được cho là bền vững khi con người có thể đối phó và khắc phục được những áp lực và cú sốc, đồng thời có thể duy trì hoặc năng cao khả năng, tài sản ở cả hiện tại và trong tương lai mà không gây tổn hại đến cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Theo Phạm Thái Hưng, Lê Đặng Trung và Nguyễn Việt Cường (2011), kết quả phân tích các chiến lược sinh kế của người dân tộc thiểu số sinh số ng ở các xã đặc biệt khó khăn cho thấy rằng họ ít di chuyển và ít hòa nhập vào thị trường lao động so với các hộ thuộc dân tộc đa số trên cùng địa bàn. Đồng bào dân tộc thiểu số thường làm nông nghiệp dưới hình thức tự cung tự cấp, đồng thời họ thường không sản xuất các loại cây hoa màu giá trị cao hoặc là cây công nghiệp để đạt được lợi ích kinh tế cao. Kết quả là, thu nhâp trung bình của các hộ dân tộc Kinh ở các xã được khảo sát cao hơn so vơi các hộ dân tộc thiểu số. Xét về cơ cấu thu nhâp của các hộ thuộc dân tộc đa số, 60% trên tổng thu nhập là từ việc làm công ăn lương, thu nhập phi nông nghiệp hoặc từ những khoản tiề n được chuyển về, còn với dân tộc thiểu số thì con số này là 38%.
Hơn một nữa nguồn thu của các hộ dân tộc thiểu số là từ trồng trọt và chăn nuôi; trồng trọt là nguồn thu nhập quan trọng nhất của tất cả các nhóm dân tộc thiểu số nghèo. Mô hình lý thuyết có liên quan Lý thuyết về thu nhập 13 Theo Scoones (1998, trích bởi Mwanza, 2011), cho rằng vốn tự nhiên, vốn tài chính, vốn con người và vốn xã hội là các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình. Cùng quan điểm này, Mincer (1974, trích bởi Bùi Quang Bình, 2008), cũng cho rằng thu nhập của hộ chịu ảnh hưởng của các yếu tố: trình độ học vấn, kinh nghiệm nghề nghiệp và giới tính của chủ hộ. Kartunen (2009), cho rằng các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình là nguồn lực vốn con người, nhân khẩu, giới tính, trình độ học vấn của chủ hộ, số người phụ thuộc.
Bên cạnh đó Mankiw (2003), cho rằng sự khác biệt trong thu nhập giữa các nước chính là do khác biệt về năng suất lao động. Cùng quan điểm Barker (2002), cho rằng năng suất lao động nông nghiệp phụ thuộc vào năng suất đất (Giá trị tổng sản phẩm tính trên 1 ha đất nông nghiệp) Theo Park (1992), trong giai đoạn phát triển, tăng trưởng nông nghiệp do nâng cao năng suất lao động nông nghiệp và chính nó quyết định nâng cao thu nhập cho nông dân Nguyễn Xuân Thành (2006), thu nhập của lao động bị ảnh hưởng bởi số năm đi học và kinh nghiệm lao động sản xuất.