Tổng quan nghiên cứu
Huyện Cư M’gar thuộc tỉnh Đắk Lắk là địa bàn trọng điểm tại khu vực Tây Nguyên với tổng diện tích tự nhiên 82.443 ha và dân số đạt hơn 174.191 người, quy tụ 25 dân tộc anh em cùng sinh sống. Trong cơ cấu dân cư, người Kinh chiếm 53,9%, dân tộc Êđê chiếm 36,42% và các dân tộc thiểu số khác chiếm gần 10%. Mặc dù kinh tế địa phương duy trì tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân 7,93%/năm giai đoạn 2013 - 2018, đói nghèo vẫn là thách thức xã hội dai dẳng và phân hóa rõ rệt. Theo kết quả rà soát năm 2018, toàn huyện ghi nhận 2.107 hộ nghèo (chiếm tỷ lệ 5,18%) và 3.618 hộ cận nghèo (chiếm tỷ lệ 8,90%). Đáng chú ý, hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số lên tới 1.409 hộ, chiếm 66,87% tổng số hộ nghèo toàn huyện; số hộ cận nghèo dân tộc thiểu số là 2.272 hộ, chiếm 62,80% tổng số hộ cận nghèo.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết thực trạng chênh lệch mức sống và tính thiếu bền vững trong công tác giảm nghèo tại 73 buôn đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ. Mục tiêu cụ thể nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá khách quan kết quả thực thi chính sách công giai đoạn 2012 - 2018, nhận diện các rào cản nội hàm về thể chế, tập quán và phương thức quản lý. Công trình mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao thu nhập bình quân đầu người từ mức 31 triệu đồng/năm năm 2018 lên các mức cao hơn, bảo đảm tốc độ giảm nghèo trong vùng dân tộc thiểu số đạt trên 3,5%/năm và ngăn chặn hiệu quả nguy cơ tái nghèo.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng lý luận về chu trình chính sách công kết hợp cùng lý thuyết quản lý công hiện đại và khung lý thuyết an sinh xã hội cho nhóm đối tượng yếu thế. Các khái niệm trung tâm được phân tích gồm: đói nghèo đa chiều theo tiêu chuẩn của Ủy ban Kinh tế và Xã hội Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP), chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg, chính sách xóa đói giảm nghèo và tổ chức thực hiện chính sách công.
Mô hình nghiên cứu phân tích tiến trình thực thi qua 7 bước chuẩn mực: xây dựng kế hoạch triển khai, phổ biến tuyên truyền, phân công phối hợp liên ngành, duy trì thực hiện, điều chỉnh chính sách, theo dõi kiểm tra đôn đốc, và tổng kết rút kinh nghiệm. Nghiên cứu tích hợp các định hướng lớn của Đảng và Nhà nước thông qua Nghị quyết số 80/NQ-CP và Quyết định số 1722/QĐ-TTg về Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp thu thập trong mốc thời gian từ năm 2012 đến năm 2018 trên địa bàn 17 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn của huyện Cư M’gar. Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ 184 thôn, buôn, tổ dân phố, tập trung chuyên sâu vào 73 buôn đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ với quy mô khảo sát trên 18.000 hộ dân tộc thiểu số. Phương pháp chọn mẫu kết hợp giữa chọn mẫu phân tầng theo đơn vị địa bàn và chọn mẫu mục đích đối với nhóm hộ nghèo, cận nghèo theo đúng quy chuẩn hướng dẫn tại Thông tư số 21/2012/TT-BLĐTBXH.
Tác giả lựa chọn phối hợp phương pháp phân tích chính sách công, phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp liên năm và xã hội học định tính. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm bóc tách chính xác các chiều thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản, đo lường sát thực mức độ bao phủ của từng chính sách thành phần và phản ánh khách quan năng lực vận hành của hệ thống chính trị cơ sở.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, tốc độ giảm nghèo chung của huyện Cư M’gar đạt kết quả tích cực nhưng giảm nghèo trong khối dân tộc thiểu số chưa đạt chỉ tiêu kế hoạch. Trong 3 năm, tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện giảm 5,42% (bình quân giảm 1,81%/năm). Tuy nhiên, tỷ lệ giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số chỉ đạt 7,49% (bình quân giảm 2,50%/năm), thấp hơn mức chỉ tiêu từ 3,5% đến 4,0%/năm do Huyện ủy Cư M’gar giao.
Thứ hai, cơ cấu hộ nghèo và cận nghèo tập trung chủ yếu vào đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ. Dù chỉ chiếm 46,1% tổng số dân, nhóm dân tộc thiểu số lại chiếm tới 66,87% tổng số hộ nghèo (1.409 hộ) và chiếm 62,80% tổng số hộ cận nghèo (2.272 hộ). Tỷ lệ hộ nghèo nội bộ trong cộng đồng dân tộc thiểu số lên tới 7,63%, cao gấp 1,47 lần so với tỷ lệ hộ nghèo bình quân chung của huyện (5,18%).
Thứ ba, tỷ lệ hộ cận nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số có xu hướng gia tăng 2,70% trong vòng 3 năm. Thực tế này phản ánh tình trạng thoát nghèo thiếu vững chắc, các hộ vừa vượt qua ngưỡng chuẩn nghèo rất dễ tái nghèo khi đối mặt với rủi ro dịch bệnh hoặc biến động giá cả nông sản.
Thứ tư, nguồn lực đầu tư hạ tầng và hỗ trợ sản xuất đã tạo chuyển biến bước đầu. Thông qua việc thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TU của Tỉnh ủy Đắk Lắk, 10 buôn khó khăn đã được đầu tư 10 tỷ đồng (gồm 500 triệu đồng hạ tầng và 500 triệu đồng phát triển kinh tế cho mỗi buôn), góp phần nâng giá trị sản xuất trên một héc-ta đất canh tác từ 57 triệu đồng năm 2013 lên 73 triệu đồng năm 2018.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân của khoảng cách phát triển xuất phát từ cả yếu tố khách quan và chủ quan. Về kinh tế, đời sống người dân phụ thuộc gần như tuyệt đối vào sản xuất nông nghiệp với 50.537 ha cây công nghiệp lâu năm, trong đó cà phê chiếm 38.000 ha. Biến động thị trường nông sản tác động trực tiếp đến thu nhập hộ gia đình. Về xã hội, trong tổng số 75.510 lao động hoạt động kinh tế, có đến 70.800 người làm việc trong ngành nông - lâm nghiệp, tỷ lệ chuyển dịch sang công nghiệp và dịch vụ còn rất thấp. Trình độ học vấn của một bộ phận người dân chưa cao, tập quán canh tác lạc hậu cùng tâm lý trông chờ vào chính sách hỗ trợ của Nhà nước đã cản trở nỗ lực tự vươn lên.
Để làm rõ bức tranh phân hóa này, dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột chồng so sánh tỷ trọng hộ nghèo giữa người Kinh và đồng bào dân tộc thiểu số, kết hợp bảng thống kê đa chiều thể hiện sự thiếu hụt các chỉ số dịch vụ xã hội cơ bản. Tương quan giữa biểu đồ tăng trưởng kinh tế địa phương đạt 7,93%/năm và đường biểu diễn tốc độ giảm nghèo cho thấy chính sách kinh tế đã mở rộng cơ hội việc làm, song các can thiệp an sinh xã hội và đào tạo nghề cần được thiết kế chuyên biệt hơn cho từng buôn làng.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp gắn với chuỗi giá trị và thị trường tiêu thụ. Ủy ban nhân dân huyện chỉ đạo Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng chính quyền các xã đẩy mạnh mô hình xen canh hồ tiêu, cây ăn quả trong 38.000 ha cà phê, phấn đấu nâng giá trị thu nhập bình quân từ 73 triệu đồng/ha lên trên 90 triệu đồng/ha trong giai đoạn 2020 - 2023. Gắn chương trình đào tạo nghề theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg với chuyển giao kỹ thuật trực tiếp tại vườn cây của hộ dân tộc thiểu số.
Thứ hai, mở rộng hạn mức và linh hoạt hóa chính sách tín dụng ưu đãi. Ngân hàng Chính sách xã hội huyện phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội nâng mức cho vay bình quân phục vụ sản xuất, kéo dài chu kỳ vay từ 3 năm lên 5 đến 7 năm cho cây công nghiệp dài ngày, đảm bảo 100% hộ nghèo và cận nghèo dân tộc thiểu số có nhu cầu và đủ điều kiện đều được tiếp cận vốn vay lãi suất thấp trước năm 2022.
Thứ ba, đẩy mạnh công tác truyền thông thay đổi nhận thức, xóa bỏ tư tưởng trông chờ ỷ lại. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội tổ chức tuyên truyền thường xuyên tại 73 buôn dân tộc thiểu số, phát động phong trào thi đua làm kinh tế giỏi. Tiếp tục duy trì phong trào tiết kiệm 1.000 đồng mỗi ngày của cán bộ, đảng viên theo Công văn số 258-CV/HU để tạo nguồn vốn xã hội hóa hỗ trợ xây dựng nhà ở kiên cố cho hộ nghèo.
Thứ tư, tăng cường phối hợp liên ngành và nâng cao năng lực giám sát cơ sở. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì chuẩn hóa quy trình rà soát hộ nghèo hàng năm, thực hiện kiểm tra chéo giữa 17 xã, thị trấn nhằm phản ánh chính xác thực trạng đời sống nhân dân, loại bỏ hiện tượng bình xét thiếu công bằng và tối ưu hóa nguồn lực hỗ trợ an sinh xã hội.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Thứ nhất, các cơ quan hoạch định và quản lý chính sách công cấp tỉnh và huyện, đặc biệt là Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ban Dân tộc tỉnh Đắk Lắk. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học sắc bén để xây dựng các chương trình mục tiêu giảm nghèo phù hợp với đặc thù vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ.
Thứ hai, đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp thực thi chính sách tại Ủy ban nhân dân 17 xã, thị trấn của huyện Cư M’gar. Tài liệu là cẩm nang hữu ích hướng dẫn quy trình điều tra, rà soát hộ nghèo đa chiều, phương pháp quản lý nguồn vốn chính sách và kỹ năng vận động quần chúng tại các buôn làng.
Thứ ba, các giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Chính sách công, Xã hội học, Quản lý công và Kinh tế phát triển. Đề tài mở ra nguồn tài liệu thực chứng hệ thống về quá trình triển khai chính sách xã hội tại vùng Tây Nguyên trong giai đoạn 2012 - 2018.
Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ và đơn vị tài trợ phát triển cộng đồng. Dữ liệu luận văn giúp định vị chính xác nhu cầu cấp bách của người dân tại 73 buôn dân tộc thiểu số để triển khai các dự án viện trợ sinh kế, nước sạch và giáo dục đạt hiệu quả cao nhất.
Câu hỏi thường gặp
Câu hỏi 1: Thực trạng nghèo đói của người dân tộc thiểu số tại huyện Cư M’gar giai đoạn 2012 - 2018 có đặc điểm gì nổi bật?
Trả lời: Đặc điểm nổi bật nhất là tính chất nghèo đói tập trung sâu sắc ở nhóm đồng bào dân tộc tại chỗ. Năm 2018, hộ nghèo dân tộc thiểu số chiếm tới 66,87% tổng số hộ nghèo toàn huyện với 1.409 hộ, tỷ lệ nghèo nội bộ khối dân tộc thiểu số là 7,63%, cao hơn nhiều so với mức trung bình 5,18% của toàn huyện.
Câu hỏi 2: Tốc độ giảm nghèo ở khu vực dân tộc thiểu số huyện Cư M’gar có đạt chỉ tiêu đề ra không?
Trả lời: Kết quả giảm nghèo chưa đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Giai đoạn 2015 - 2018, tỷ lệ nghèo trong khối dân tộc thiểu số giảm bình quân 2,50%/năm (tổng giảm 7,49%), trong khi chỉ tiêu Huyện ủy Cư M’gar giao là giảm từ 3,5% đến 4,0%/năm. Đồng thời, tỷ lệ hộ cận nghèo lại tăng thêm 2,70%.
Câu hỏi 3: Những nguyên nhân cốt lõi nào khiến tỷ lệ nghèo dân tộc thiểu số tại Cư M’gar còn cao?
Trả lời: Nguyên nhân cốt lõi bao gồm sản xuất thuần nông phụ thuộc vào thị trường cà phê, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp thấp (chỉ khoảng 4.710 người), trình độ dân trí và tay nghề hạn chế, nguồn lực đầu tư đôi lúc còn dàn trải, cùng tâm lý trông chờ ỷ lại vào hỗ trợ nhà nước của một bộ phận người dân.
Câu hỏi 4: Luận văn đã sử dụng phương pháp tiếp cận nghèo nào để phân tích thực trạng?
Trả lời: Luận văn đã kết hợp phương pháp đo lường nghèo đơn chiều theo thu nhập giai đoạn trước năm 2015 và phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg, giúp nhận diện rõ nét mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục và nhà ở.
Câu hỏi 5: Địa phương đã áp dụng mô hình huy động nguồn lực đặc thù nào mang lại hiệu quả cao?
Trả lời: Địa phương đã triển khai sáng tạo phong trào tiết kiệm 1.000 đồng mỗi ngày của cán bộ, đảng viên theo Công văn số 258-CV/HU để gây quỹ xây dựng nhà ở cho người nghèo, kết hợp cùng chương trình đầu tư 10 tỷ đồng cho 10 buôn khó khăn theo Nghị quyết số 04-NQ/TU của Tỉnh ủy Đắk Lắk.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và đánh giá thực tiễn sâu sắc về tiến trình thực thi chính sách xóa đói, giảm nghèo cho người dân tộc thiểu số tại huyện Cư M’gar giai đoạn 2012 - 2018.
- Các phát hiện thực nghiệm làm rõ kết quả giảm nghèo dân tộc thiểu số đạt 2,50%/năm, đồng thời chỉ ra điểm nghẽn lớn khi hộ nghèo dân tộc thiểu số vẫn chiếm tỷ trọng chi phối 66,87% toàn huyện.
- Đóng góp khoa học cốt lõi của công trình là xác lập mô hình thực thi chính sách công đa chiều, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển nông nghiệp hàng hóa bền vững với chuyển đổi sinh kế phi nông nghiệp.
- Lộ trình giai đoạn 2020 - 2025 cần tập trung bảo vệ an toàn sinh kế cho 2.272 hộ cận nghèo, nâng cao giá trị canh tác vượt mốc 90 triệu đồng/ha và bảo đảm 100% người dân tộc thiểu số tiếp cận đầy đủ an sinh xã hội.
- Các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu hãy ứng dụng ngay hệ thống giải pháp của luận văn vào công tác thực tiễn để thúc đẩy mục tiêu giảm nghèo bền vững và phát triển bao trùm trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.