Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO CHO NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Sự cần thiết của chính sách xóa đói, giảm nghèo cho người dân tộc thiểu số Để quản lý xã hội, Nhà nước đã sử dụng chính sách làm công cụ chủ yếu để giải quyết những vấn đề chung của cộng đồng nhằm thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển theo định hướng. Chính sách xóa đói, giảm nghèo cho người dân tộc thiểu số là một trong những chính sách đang được Đảng và nhà nước ta triển khai thực hiện, và chính sách này có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội và nó thực sự cần thiết cho xã hội được thể hiện cụ thể như sau: Thứ nhất, chính sách xóa đói, giảm nghèo cho người dân tộc thiểu số định hướng cho người dân tộc thiểu số tham gia tích cực vào các hoạt động xóa đói, giảm nghèo nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng là giúp họ thoát khỏi nghèo đói, cải thiện đời sống. Khi người dân tộc thiểu số tương tác tốt với chính sách xóa đói, giảm nghèo thì xã hội phát triển và đồng thời bản thân người dân tộc thiểu số cũng được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ dành riêng cho mình.
Như vậy, cùng với mục tiêu của chính sách xóa đói, giảm nghèo thì các biện pháp chính sách cũng có vai trò định hướng cho hành động của nhóm đối tượng yếu thế cụ thể là người dân tộc thiểu số nghèo. Thứ hai, chính sách xóa đói, giảm nghèo cho người dân tộc thiểu số khuyến khích và hỗ trợ các hoạt động kinh tế - xã hội khác theo định hướng, điều này được thể hiện cụ thể trong việc ban hành các giải pháp để đạt được mục tiêu của chính sách, trong đó luôn có những giải pháp mang tính khuyến khích người dân tộc thiểu số tham gia vào các hoạt động như tiếp cận nguồn vốn có lãi suất thấp để tái sản xuất, học nghề miễn phí, miễn giảm một số loại 8 thuế, phí khi tham gia các giao dịch hành chính nhà nước,… vì thế chính sách này tác động đến một loạt các hoạt động kinh tế - xã hội khác theo hướng tích cực, cùng có lợi và cùng phát triển. Thứ ba, chính sách xóa đói, giảm nghèo cho người dân tộc thiểu số phát huy được những mặt tích cực và đồng thời khắc phục những hạn chế của nền kinh tế thị trường. Trong đời sống thường nhật, người dân tộc thiểu số nghèo cũng là đối tượng tham gia vào các hoạt động kinh tế thị trường; sản xuất buôn bán hàng hóa, tuy nhiên những rủi ro họ gặp thường cao hơn so với các nhóm đối tượng khác do nhiều nguyên nhân khác nhau, vì thế chính sách xóa đói, giam nghèo có những tác động cụ thể để hỗ trợ họ khi tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, mua bán hàng hóa như hỗ trợ vốn lãi xuất thấp, đào tạo nghề, hướng dẫn tư vấn hoạt động, bố trí các nhóm, các kênh hỗ trợ họ khi cần thiết.
Thứ tư, chính sách xóa đói, giảm nghèo cho người dân tộc thiểu số tạo lập sự cân đối trong phát triển xã hội. Chính sách này tạo động lực cho nhóm đối tượng là người dân tộc thiểu số nghèo có điều kiện vươn lên thoát nghèo, cải thiện đời sống cho chính họ đồng thời cũng chính là đang tạo nên sự cân đối trong tương quan phát triển giữa các dân tộc với nhau, trong so sánh giữa các vùng miền. Thứ năm, chính sách xóa đói, giảm nghèo cho người dân tộc thiểu số có vai trò kiểm soát và phân bổ các nguồn lực trong xã hội. Nhà nước luôn quan tâm đến việc quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn lực cho phát triển.
Để đảm bảo việc phát triển bền vững đồng nghĩa phải biết cách phân bổ và sử dụng các nguồn lực hợp lý. Chính sách xóa đói, giảm nghèo giúp phân bổ các nguồn lực hỗ trợ cho người nghèo hợp lý, không để lãng phí và sử dụng có hiệu quả để góp phần phát triển xã hội. Thứ sáu, chính sách xóa đói, giảm nghèo cho người dân tộc thiểu số tạo 9 ra môi trường thích hợp để thúc đẩy các hoạt động kinh tế - xã hội. Khi người dân tộc thiểu số nghèo tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội sẽ được hưởng các ưu đãi, các hỗ trợ từ chính sách xóa đói giảm nghèo nên họ có điều kiện thuận lợi để tiếp cận mọi nguồn lực hỗ trợ, đồng thời các hoạt động kinh tế xã hội đó cũng được phát triển do sự tham gia tích cực và có hiệu quả.
Ví dụ cụ thể như khi người dân tộc thiểu số nghèo tham gia vào chương trình vay vốn tái sản xuất của ngân hàng chính sách sẽ được ưu đãi ở mức lãi suất thấp, thời hạn trả dài nhưng ngược lại, ngân hàng sẽ thu hồi được vốn và lãi khi đối tượng này tái sản xuất thành công nhờ vào được đào tạo nghề, hướng dẫn ký thuật, hỗ trợ giống từ chính sách xóa đói, giảm nghèo. Chính vì vậy, chính sách này có tác động tích cực và thúc đẩy các hoạt động kinh tế - xã hội khác. Ngoài ra, chính sách xóa đói, giảm nghèo cho người dân tộc thiểu số còn thúc đẩy sự phối hợp hoạt động giữa các cấp, các ngành. Khi triển khai bất kỳ chính sách nào thì luôn luôn diễn ra sự phối hợp của nhiều ban ngành, của nhiều cấp.
Đối với chính sách xóa đói, giảm nghèo cho người dân tộc thiểu số ta thấy rõ sự phối hợp giữa các cấp, các ngành khi triển khai. Cụ thể như ngành lao động thương binh xã hội chủ trì triển khai, các trường dạy nghề, các ngân hàng chính sách là các cơ quan phối hợp thực hiện. Chỉ khi thực hiện chính sách như thế này, thì sự phối hợp hoạt động được thể hiện rõ nét và tích cực. Trong quá trình thực thi chính sách, các cấp, các ngành còn phải chủ động điều chỉnh kế hoạch để thích hợp và tạo đà phát triển mạnh nhất, chung nhất.
Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo cho người dân tộc thiểu số. Khái niệm, đặc điểm thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo cho người dân tộc thiểu số Để đưa ra cách hiểu thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo cho dân 10 tộc thiểu số là gì, trước hết cần làm rõ một số khái niệm sau: -Đói nghèo: Trong tài liệu Sáng kiến quản lý về giới và chính sách kinh tế ở Châu Á – Thái Bình Dương ( trang 4 – phần 6) viết: “ Đói nghèo là một khái niệm đa chiều vừa dễ và vừa khó để định nghĩa. Đói nghèo thường được mô tả như một tình trạng theo đó những cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng thiếu các nguồn lực để tạo ra những nguồn thu nhập có thể duy trì mức tiêu dùng đủ đáp ứng các nhu cầu cho một cuộc sống đầy đủ, sung túc. Theo cách tiếp cận này, đói nghèo là tình trạng thiếu thốn vật chất.
Sự thiếu thốn vật chất còn có thể được thể hiện qua những nét đặc trưng của những khu vực mà người nghèo thường sinh sống, là những nơi thường thiếu điện, nước sạch hay nhà vệ sinh và các dịch vụ khác. Tại các khu vực này, ngay cả một hộ gia đình có điều kiện kinh tế chi trả cho những dịch vụ kể trên cũng có thể gặp khó khăn về nguồn cung”. Cho đến nay, khái niệm nghèo được dùng nhiều nhất là khái niệm đã được đưa ra tại Hội nghị bàn về giảm nghèo đói do Ủy ban Kinh tế & Xã hội của Châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức vào tháng 9/1993 tại Bangkok – Thái Lan, quan niệm này được phát biểu như sau: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không cókhả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà nhữngnhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận”. - Chuẩn nghèo và đo lường nghèo: a.
Khái niệm về chuẩn nghèo Những người được coi là nghèo khi mức sống của họ đo qua thu nhập (hoặc chitiêu) thấp hơn mức tối thiểu chấp nhận được, tức là thấp hơn chuẩn nghèo. Những người có mức thu nhập hoặc chi tiêu ở trên chuẩn này là người 11 không nghèo hoặc đã vượt nghèo, thoát nghèo. Phương pháp xác định chuẩn nghèo Từ năm 1993 đến nay, Chính phủ đã 6 lần điều chỉnh chuẩn nghèo đói của Việt Nam cho phù hợp với tình hình phát triển chung của xã hội. Chuẩn nghèo giai đoạn 2006 – 20010 và 2011 - 2015, được xác định như sau: Giai đoạn 2006-2010: + Đối với khu vực nông thôn: thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/ tháng trở xuống là hộ nghèo.
+Đối với khu vực thành thị: thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/ tháng trở xuống là hộ nghèo. Giai đoạn 2011-2015: + Đối với khu vực nông thôn: thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/ tháng trở xuống là hộ nghèo. + Đối với khu vực thành thị: thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/ tháng trở xuống là hộ nghèo. Giai đoạn 2016 – 2020: + Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1614/QĐ-TTg ngày 15/9/2015 Phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016- 2020”,chuẩn nghèo giai đoạn 2016 - 2020 theo hướng: sử dụng kết hợp cả chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản; xây dựng mức sống tối thiểu để từng bước bảo đảm an sinh xã hội cho mọi người dân, trước mắt áp dụng chuẩn nghèo chính sách để phân loại đối tượng hộ nghèo, phù hợp với khả năng cân đối ngân sách.
- Xóa đói, giảm nghèo và chính sách xóa đói, giảm nghèo + Khái niệm xóa đói, giảm nghèo: Tăng trưởng kinh tế và xóa đói, giảm nghèo có mối quan hệ biện chứng 12 trong tiến trình phát triển xã hội: Khi kinh tế tăng trưởng tạo ra điều kiện cơ sở vật chất để xóa đói giảm nghèo, ngược lại xóa đói giảm nghèo là một nhân tố đảm bảo cho sự tăng trưởng mang tính bền vững. Tăng trưởng kinh tế chi phối xóa đói, giảm nghèo nhiều và quyết định phần hơn. Xóa đói, giảm nghèo chỉ mang tính tương đối, bởi vì đói nghèo có thể tái lại nếu các giải pháp xóa đói giảm nghèo chưa thực sự hiệu quả hoặc có những biến động khác tác động đến đời sống xã hội như khủng hoảng lạm phát, thiên tai….