Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI 1. Quản lý nhà nước về hoạt giám sát, phản biện xã hội 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm giám sát Giám sát là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong các văn bản của Đảng và Nhà nước; tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có được sự thống nhất trong cách hiểu khái niệm này.
Theo Từ điển Tiếng Việt, giám sát được hiểu là “sự theo dõi, xem xét làm đúng hoặc sai những điều đã quy định”; hoặc được hiểu là “theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không” [37, tr. Còn theo Từ điển Luật học, “Giám sát là sự theo dõi, quan sát mang tính chủ động thường xuyên của các cơ quan tổ chức và nhân dân đối với hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát và tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng các hoạt động đó đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước, bảo đảm cho hiến pháp và pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh” [51, tr. Theo cuốn Tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng: “Giám sát là sự theo dõi, kiểm tra, phát hiện, đánh giá của cá nhân, tổ chức, cộng đồng người này đối với cá nhân, tổ chức, cộng đồng người khác trong các lĩnh vực hoạt động kinh tế- xã hội; trong việc thực hiện chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, Hiến pháp, pháp luật, chính sách của Nhà nước, các quyền, nghĩa vụ công dân, của các tổ chức chính trị- xã hội và những kiến nghị phát huy ưu điểm, thành tựu, xử lý đối với các nhân, tổ chức có những hành vi sai trái” [30, tr. Theo Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội (Ban hành kèm theo Quyết định số 12 217-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị): “Giám sát là việc theo dõi, phát hiện, xem xét; đánh giá kiến nghị nhằm tác động đối với cơ quan, tổ chức và cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công chức, viên chức nhà nước về việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước” [4, tr.
Như vậy, giám sát phải luôn gắn với một đối tượng cụ thể, tức là phải trả lời được các câu hỏi: giám sát ai? giám sát việc gì? Điều này có ý nghĩa rất quan trọng ở chỗ, nó giúp phân biệt “hoạt động giám sát” với “hoạt động kiểm tra”. Trong “hoạt động kiểm tra” thì chủ thể hoạt động và đối tượng chịu sự tác động của hoạt động đó có thể đồng nhất với nhau, như việc tự kiểm tra của chủ thể hoạt động. Nói cách khác, chủ thể của hoạt động kiểm tra hoàn toàn có thể tự mình căn cứ vào chương trình, mục tiêu, kế hoạch đã đề ra để tự xem xét, đánh giá tình trạng tốt, xấu của công việc mình đang làm. Còn trong “hoạt động giám sát” thì chủ thể không thể tự mình giám sát hoạt động của chính mình được, nghĩa là không thể “tự ngắm mình” được, mà hoạt động giám sát là hoạt động của chủ thể ở bên ngoài hệ thống hướng tới “theo dõi, xem xét”đối tượng thuộc một hệ thống khác, tức là chủ thể thực hiện hoạt động giám sát và đối tượng chịu sự giám sát không nằm trong cùng một hệ thống phụ thuộc nhau.
Hoạt động giám sát là hoạt động theo dõi, xem xét, đánh giá có tính bao quát của chủ thể từ bên ngoài hệ thống đối với đối tượng không nằm trong cùng một hệ thống phụ thuộc nhau nhằm bảo đảm việc thực hiện đúng những chuẩn mực, quy định. Trên bình diện chung, hoạt động giám sát được tiến hành trên cơ sở các quyền và nghĩa vụ của chủ thể tiến hành hoạt động giám sát và đối tượng chịu sự giám sát. Hoạt động giám sát có thể mang tính quyền lực nhà nước hoặc không mang tính quyền lực nhà nước tùy thuộc vào chủ thể tiến hành hoạt động giám sát: 13 - Hoạt động giám sát mang tính quyền lực nhà nước được tiến hành bởi chủ thể là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với một hay một số hệ thống cơ quan nhà nước khác. Chẳng hạn, theo quy định tại Điều 69 Hiến pháp năm 2013, Quốc hội thực hiện việc giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước (Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao); thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân thủ Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội (Điều 70).
Hoặc, hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân đối với các cơ quan nhà nước ở địa phương. - Hoạt động giám sát không mang tính quyền lực nhà nước là loại hình giám sát được tiến hành bởi các chủ thể phi Nhà nước, như hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc (Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân.) và công dân đối với bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước; hoặc đơn giản chỉ là hoạt động giám sát quá trình thi công một công trình. Khái niệm hoạt động phản biện xã hội Trong đời sống chính trị của một đất nước, các thiết chế cầm quyền luôn đứng trước nhu cầu là phải lựa chọn, đắn đo cân nhắc trong số rất nhiều các dữ kiện chủ quan và khách quan cũng như các lợi ích của các giai cấp, các nhóm xã hội, dân tộc, quốc tế. khác nhau để đưa ra những quyết sách đúng đắn, kịp thời, hợp lý nhất nhằm giải quyết những vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đặt ra.
Do vậy, họ cố tranh thủ ý kiến, nhận xét, đánh của các tổ chức, cá nhân, cộng đồng xã hội. Các lực lượng xã hội khác nhau, vì lợi ích của chính mình và lợi ích chung của cả cộng đồng cũng dưới hình thức này hoặc bằng hình thức khác cũng tìm cách đưa ra những quan điểm, chính kiến của mình xung quanh những các vấn đề mà họ quan tâm. Kết quả là, nhờ thông qua sự tranh luận, nhận xét, đánh giá, tìm tòi mà các chủ thể khác nhau đã đưa ra được những quyết sách đúng đắn, phù hợp nhất có thể, áp dụng vào 14 cuộc sống để đem lại lợi ích chung cho tổ chức, cộng đồng, đất nước. Đó là lúc chúng ta nói đến hoạt động phản biện xã hội.
Phản biện xã hội khác với phản biện khoa học. Phản biện khoa học là hình thức được áp dụng khi tiến hành nghiên cứu, xét duyệt, nghiệm thu các công trình nghiên cứu khoa học để đưa ra các quyết định về tính đúng sai; chủ thể tiến hành các cuộc phản biện khoa học là hội đồng nghiệm thu, đánh giá các công trình nghiên cứu khoa học, đề án, dự án có những thẩm quyền xác định (nghiệm thu - không nghiệm thu, tán thành - không tán thành) đối với công trình nghiên cứu, phát minh, sáng chế được đưa ra xét duyệt, còn phản biện xã hội là hình thức được áp dụng để tìm được sự đồng thuận xã hội về lợi ích trong thẩm định, xét duyệt các chủ trương, đường lối, trong ban hành các đạo luật, trong hoạch định các đề án, dự án, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Chủ thể phản biện xã hội rất rộng, bao gồm toàn bộ xã hội nói chung, song không nằm trong quan hệ “đối lập hai bên” với bên đề ra chủ trương, đường lối, chính sách, kế hoạch (Đảng, cơ quan nhà nước, cơ quan đề xuất sáng kiến pháp luật, chủ đầu tư.); mà giữa chủ thể phản biên và chủ thể được phản biện gắn kết với nhau trong một mối quan hệ thống nhất, ràng buộc lẫn nhau và cùng hướng tới mục tiêu chung. Phản biện xã hội gắn với hoạt động công quyền, có tính chính trị - pháp lý.
Đặc trưng cơ bản của phản biện xã hội (phân biệt với phản biện trong các lĩnh vực khác như tranh tụng tư pháp, nghiên cứu khoa học, thẩm định chất lượng các báo cáo, đề án) thể hiện ở chỗ, phản biện xã hội là phản biện đối với hoạt động tổ chức và thực thi quyền lực chính trị mà ở đó, quan hệ giữa các chủ thể - phản biện và được phản biện - nằm trong mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau: một bên là những thiết chế đại diện có trách nhiệm đưa ra các quyết định lãnh đạo, quản lý chung đối với xã hội; bên kia là các cá nhân công dân và các tổ chức xã hội, đoàn thể nhân dân có mối liên hệ về quyền dân chủ, về quyền công dân và sự quan tâm đến lợi ích chung đã đứng ra nêu lên nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến về những vấn đề do các thiết chế thực 15 thi quyền lực công đưa ra với mong muốn quyết định đó trở nên phù hợp hơn, khả thi hơn và đem lại lợi ích chung cho toàn xã hội. Phản biện xã hội là phản biện mang tính nhân dân, tính xã hội rộng rãi. Hoạt động phản biện xã hội với nội dung này đã luôn hiện hữu trong các chế độ nhà nước từ trước đến nay. Từ ngàn xưa, đó là chế độ “chiêu hiền, đãi sĩ” để tranh thủ ý kiến người hiền tài, là chế độ can gián vua chúa.
Trong chế độ tư bản đó là hoạt động đảng phái đối lập, lobby, mít tinh, biểu tình. Còn trong chế độ ta, biểu hiện rõ rệt nhất là nguyên tắc đấu tranh phê bình và tự phê bình trong Đảng, sự xem xét, đánh giá hoạt động trong các cơ quan, tổ chức nhà nước. Sự phê bình không phải đơn giản chỉ là nhận xét cá nhân, sự phê phán giữa các cá nhân với nhau, mà phải hiểu sâu xa hơn là cả sự phản biện chủ trương, đường lối, chính sách. Ở nước ta, phản biện hay phản biện xã hội được đề cập nhiều trong khoảng 15 năm trở lại đây.
Phản biện xã hội dần trở thành một chức năng quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Một số nhà khoa học cho rằng, phản biện xã hội là nhận xét, đánh giá của xã hội, của nhân dân và các nhà khoa học về nội dung, phương hướng, chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ, giáo dục, y tế, môi trường, trật tự, an ninh.