Mở đầu Phần 2: Tổng quan tài liệu Phần 3: Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu Phần 4: Kết quả nghiên cứu Phần 5: Kết luận và kiến nghị n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở lý luận của đề tài 2. Một số khái niệm 2. Khái niệm Giới tính và Giới * Giới tính: là một thuật ngữ được các nhà khoa học xã hội và các nhà sinh học dùng để chỉ một phạm trù sinh học, trong ý nghĩa đó nam và nữ khác nhau về mặt sinh học, tạo nên hai giới tính: nam giới và nữ giới [5].
Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến quá trình tái sản xuất con người và di truyền nòi giống. Ví dụ như sự khác nhau về hình dáng bên ngoài cơ thể (nam giới cao to hơn, nặng hơn, giọng nói trầm hơn, thể lực mạnh hơn phụ nữ), sự khác nhau về cấu tạo NST, hormone…, sự khác nhau về chức năng sinh học, tạo nên vai trò của giới tính (phụ nữ có thai, sinh con và cho con bú, nam giới sản xuất ra tinh trùng để thụ thai). Những đặc trưng mang tính sinh học này có ngay từ khi con người được sinh ra, chúng ổn định và hầu như không biến đổi ở cả nam và nữ [5]. * Giới: Giới không nói đến nam hay nữ mà chỉ mối quan hệ giữa họ.
Giới không phải là sự xác định sinh học – như kết quả những đặc điểm về giới tính của nam hay nữ, mà giới là do xã hội xác lập nên. Nó là một nguyên tắc tổ chức xã hội có thể kiểm soát tiến trình sản xuất, tái sản xuất, tiêu thụ và phân phối [5]. Giới là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân học, nói đến vai trò trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ. Giới đề cập đến việc phân công lao động, các kiểu phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh cụ thể.
Giới chỉ mối quan hệ xã hội và tương quan giữa địa vị xã hội của nam và nữ trong bối cảnh xã hội cụ thể. Khi nói đến giới, là nói đến các điều kiện và yếu tố xã hội quy định vị trí và hành vi xã hội của mỗi giới trong một hoàn cảnh cụ thể. Như vậy, giới được xác định trong mối quan hệ giữa nam và nữ về quyền lực, vị trí xã hội và phân công lao động [5]. Đặc điểm, nguồn gốc và sự khác biệt về giới * Đặc điểm về giới: - Đặc trưng xã hội n 5 - Do dạy và học mà có - Đa dạng - Biến đổi theo hoàn cảnh xã hội - Thay đổi theo không gian và thời gian * Nguồn gốc giới: - Trong gia đình, bắt đầu từ khi sinh ra, đứa trẻ được đối xử tùy theo nó là trai hay gái.
Đó là sự khác nhau về đồ chơi, quần áo, tình cảm của ông bà, bố mẹ, anh chị. Đứa trẻ được dạy dỗ và điều chỉnh hành vi của chúng theo giới tính của mình. - Trong nhà trường, các thầy cô giáo cũng định hướng theo sự khác biệt về giới cho học sinh. Học sinh nam được hướng theo các ngành kỹ thuật, điện tử, các ngành cần có thể lực tốt.
Học sinh nữ được hướng theo các ngành như may, thêu, trang điểm, các ngành cần sự khéo léo, tỉ mỉ. * Sự khác biệt về giới Phụ nữ luôn được xem là phái yếu, vì họ sống thiên hơn về tình cảm, họ là thành phần quan trọng tạo nên sự yên ấm trong gia đình. Thiên chức của phụ nữ là làm vợ, làm mẹ, nên họ gắn bó với con cái, gia đình hơn nam giới và cũng từ đấy mối quan tâm của họ cũng có phần khác nam giới. Nam giới được coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình.
Họ cứng rắn hơn về tình cảm, mạnh bạo và năng động hơn trong công việc. Đặc trưng này cho phép họ dồn hết tâm trí vào lao động sản xuất, còn công việc xã hội, ít bị ràng buộc bởi con cái và gia đình. chính điều này đã làm tăng thêm khoảng cách giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội. Hơn nữa, nam giới và nữ giới lại có xuất phát điểm không giống nhau để tiếp cận cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn với tính chất và mức độ khác nhau để tham gia vào các chương trình kinh tế, từ góc độ nhận thức, nắm bắt các thông tin xã hội.
Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế, từ điều kiện và cơ hội được học tập, tiếp cận việc làm và làm việc, từ vị trí trong gia đình, ngoài xã hội khác nhau, từ tác động của định kiến xã hội, các hệ tư tưởng, phong tục tập quán đối với mỗi giới cũng khác nhau. Nhu cầu, lợi ích giới và bình đẳng giới * Nhu cầu giới (còn gọi là nhu cầu giới thực tế): Là những nhu cầu của phụ nữ và nam giới cần được đáp ứng để thực hiện tốt các vai trò được xã hội công nhận. Nhu cầu này nảy sinh từ đời sống hằng ngày, là những thứ nhìn thấy được, thiết thực, cụ thể. Có liên quan đến các trách nhiệm và nhiệm vụ gắn với các vai trò n 6 giới truyền thông.
Đáp ứng nhu cầu giới thực tế có thể cải thiện cuộc sống nhưng không thay đổi phân công lao động theo giới hay cải thiện vị trí của người phụ nữ trong xã hội [5]. * Lợi ích giới (còn gọi là nhu cầu giới chiến lược): là những nhu cầu thường nảy sinh từ vị thế thấp hơn của mỗi giới trong xã hội. Các nhu cầu này liên quan đến phân công lao động, đến quyền lực, sự kiểm soát và có thể bao hàm cả những vấn đề nhưu quyền pháp lý, bạo lực trong gia đình, tiền công công bằng hoặc sự kiểm soát thân thể,… Việc đáp ứng các nhu cầu chiến lược sẽ làm thay đổi sự phân công lao động, thay đổi vai trò và vị thế của giới [5]. Nhu cầu giới chiến lược của phụ nữ xuất phát từ vị trí lệ thuộc, thiệt thòi của họ trong gia đình và ngoài xã hội – Nhu cầu chiến lược là lâu dài và liên quan đến việc cải thiện địa vị của người phụ nữ so với nam giới.
* Bình đẳng giới Bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và nam giới có địa vị như nhau, có cơ hội như nhau để phát triển tiềm năng và được hưởng thụ bình đẳng và công bằng những lợi ích của sự phát triển. Bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và nam giới có sự công bằng về quyền lợi, trách nhiệm và bình đẳng về tiếp cận cơ hội và quyết định. Bình đẳng giới không có nghĩa là phụ nữ và nam giới phải như nhau, mà là sự giống nhau và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới phải được công nhận và đánh giá một cách bình đẳng [5]. Vai trò của giới - Vai trò sản xuất: là những hoạt động do phụ nữ và nam giới thực hiện để làm ra của cải vật chất hoặc tinh thần đem lại thu nhập hoặc để tự tiêu dùng.
- Vai trò tái sản xuất: bao gồm trách nhiệm sinh đẻ, nuôi con và các công việc nội trợ trong gia đình để duy trì và tái sản xuất sức lao động. Vai trò này không chỉ bao gồm sự tái sản xuất sinh học, mà còn bao gồm cả chăm lo và duy trì lực lượng lao động hiện tại và tương lai. - Vai trò cộng đồng: gồm hai loại vai trò quản lý cộng đồng và vai trò chính trị cộng đồng. + Vai trò quản lý cộng đồng: là các hoạt động ở cấp độ cộng đồng như là sự mở rộng vai trò tái sản xuất.
Đó là các công việc nhằm bảo đảm và duy trì các nguồn lực để sử dụng chung như nguồn nước, vệ sinh đường làng ngõ xóm, tham gia lễ hội của làng bản… Đây là những công việc tự nguyện, không được trả tiền và thường làm vào thời gian rảnh rỗi. n 7 + Vai trò chính trị cộng đồng: gồm những hoạt động thực hiện ở cấp độ cộng đồng, với vị trí chính trị chính thức như tham gia vào các công việc của các tổ chức chính quyền và đoàn thể địa phương. Đây là những công việc được trả tiền hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp bằng hiện vật, các công việc này làm tăng thêm vị trí và quyền lực của cá nhân trong cộng đồng. Phát triển kinh tế nông thôn 2.
Khái niệm về phát triển và phát triển kinh tế * Phát triển: Phát triển là sự thay đổi của cấu trúc kinh tế trong sự tăng trưởng và liên quan đến nó là sự chuyển biến của các lĩnh vực văn hóa, xã hội khác. Phát triển phản ánh toàn diện cả khía cạnh tăng thêm về lượng và thay đổi về chất của một xã hội, bao gồm: gia tăng thu nhập, thay đổi về cơ cấu kinh tế xã hội, phân phối công bằng việc sử dụng cảu cải vật chất, đảm bảo tiến bộ xã hội, cải thiện môi trường sống [8]. * Phát triển kinh tế: trước hết là sự gia tăng nhiều hơn về số lượng và chất lượng sản phẩm, sự đa dạng về chủng loại sản phẩm của nền kinh tế. Đồng thời, phát triển còn là sự thay đổi theo hướng tích cực trên tất cả các khía cạnh của nền kinh tế, xã hội [6].
Khái niệm về nông thôn Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác [6]. Khái niệm, đặc điểm hộ gia đình, kinh tế hộ nông dân, kinh tế nông thôn. * Hộ gia đình: Có ba tiêu thức chính thường được nói đến khi định nghĩa khái niệm hộ gia đình: - Có quan hệ huyết thống và hôn nhân - Cùng cư trú - Có cơ sở kinh tế chung [7].
Hộ được hiểu là: tất cả những người cùng sống trong một mái nhà, bao gồm những người có cùng huyết tộc và những người làm công [7]. Về phương diện thống kê, các nhà nghiên cứu Liên hợp quốc cho rằng, hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ [7]. n 8 Đại đa số các hộ ở Việt Nam đều gồm những người có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống. Vì vậy khái niệm hộ thường được hiểu đồng nghĩa với gia đình, nhiều khi được gộp thành khái niệm chung là hộ gai đình.