Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chương 3. Thực trạng sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị cấp cơ sở tỉnh Nam Định Chương 4.
Một số nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị cấp cơ sở tỉnh Nam Định. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu về sự tham gia chính trị của phụ nữ ở nước ngoài Rất nhiều nước ở tất cả các châu lục khác nhau trên thế giới đã quan tâm đến sự tham gia của phụ nữ trong hoạt động chính trị. Sự quan tâm này được thể hiện ở hai khía cạnh: (i) Chính phủ và các Đảng phái ở các nước đã ban hành các quy định cụ thể nhằm thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị, (ii) các nhà nghiên cứu và các cơ quan, tổ chức khác nhau đã tiến hành nhiều nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này.
Trong quá trình tổng quan tài liệu, chúng tôi tạm thời phân các nghiên cứu của các nhà khoa học và các tổ chức, cơ quan nghiên cứu của nước ngoài về vấn đề phụ nữ tham gia chính trị theo một số nội dung sau: - Thực trạng sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị của một số nước; - Chính sách của các chính phủ trong việc thúc đẩy sự tham gia chính trị của phụ nữ; - Những khó khăn và các nhân tố ảnh hưởng tới phụ nữ khi tham gia chính trị; - Vai trò và những đóng góp của phụ nữ khi tham gia chính trị. Nghiên cứu về thực trạng sự tham gia chính trị của phụ nữ Cương lĩnh hành động Bắc Kinh năm 1995 đã đặt ra mục tiêu: trước năm 2025, nghị viện các nước sẽ đạt tỷ lệ 30% phụ nữ. Tuy nhiên, theo xu hướng hiện nay cho thấy mục tiêu này khó có thể đạt được. Theo Lương Thu Hiền [169], bản đồ tham chính của phụ nữ thế giới năm 2014 của Liên minh Nghị viện thế giới (IPU) và Quỹ phụ nữ Liên hiệp quốc (UN Women) cho thấy, phụ nữ đang tham gia ngày càng sâu rộng hơn trong đời sống chính trị, xã hội của các nước.
Đáng ngạc nhiên là Rwanda - quốc gia nghèo ở châu Phi đã chịu bao đau thương từ nạn diệt chủng 20 năm trước có tỷ lệ nữ trong QH cao nhất thế giới, lên tới 63,8%. IPU gọi QH Rwanda là cơ quan lập pháp thân thiện với nữ giới nhất. Tỷ lệ phụ nữ trong QH các nước Bắc Âu chiếm 42,11%. Trên toàn cầu chỉ có 29 quốc gia có tỷ lệ nữ trong QH trên 30%; 24 quốc gia nằm trong nhóm 9 gần đạt đến tỷ lệ 30% (từ 25% đến 29%).
Châu Á- Thái Bình Dương và Trung Đông vẫn là những khu vực có tỷ lệ nữ tham gia QH thấp hơn các khu vực khác (châu Á 18,4%, Thái Bình Dương 16,2%, Trung Đông 16%). Trong danh sách xếp hạng về tỷ lệ nữ tham chính năm 2014, số lượng phụ nữ ở các cơ quan ra quyết định chưa nhiều. Chỉ có 25 nữ nguyên thủ trên tổng số 195 quốc gia trên thế giới, 36 nước có tỷ lệ phụ nữ giữ chức vụ bộ trưởng trong nội các Chính phủ trên 30%. Có 31 nước có tỷ lệ nữ Bộ trưởng dưới 10% và 8 quốc gia châu Á Thái Bình Dương không có nữ Bộ trưởng nào [169].
Mặc dù Nghị quyết quan trọng 1325 của Hội đồng Bảo an LHQ năm 2000 đã công nhận phụ nữ phải giữ vai trò trung tâm trong gìn giữ hòa bình, nhưng từ năm 1992 đến 2011 chỉ có 9% những người tham gia các bàn đàm phán hòa bình là phụ nữ. Tính đến tháng 8 năm 2015, chỉ có 22% đại biểu, nghị sĩ quốc hội là phụ nữ [79]. Những con số này đã mô tả hết sức rõ nét bức tranh bất BĐG sâu sắc trong chính trị đang diễn ra tại tất cả các khu vực và vùng lãnh thổ. Thế giới vẫn đang khan hiếm lãnh đạo nữ trong toàn bộ hệ thống quản trị nhà nước từ cấp địa phương tới cấp quốc gia.
Handbook of Gender and Work, SAGE Publications [149] là công trình mang tính học thuật của nhiều tác giả khác nhau. Trong chương 9, với chủ đề “Gender influences on performance evaluations - Những ảnh hưởng Giới đối với công việc”, tác giả Kathryn M. Barton cho rằng: Mặc dù trong ba thập kỷ vừa qua đã chứng kiến sự gia tăng số lượng lớn phụ nữ giữ những chức vụ quản lý, tuy nhiên vẫn còn tồn tại cơ cấu giới tính trong các tổ chức. Phụ nữ vẫn có rất ít đại diện trong các cấp độ quản lý cao hơn.
Trong Chương 11 của cuốn sách này với chủ đề “Gender Effects on Social Ifluence and Emergent Leadership - Những tác động giới đối với Ảnh hưởng xã hội và Tiềm năng lãnh đạo” thông qua việc nghiên cứu vị thế của phụ nữ trong các tổ chức, các tác giả phát hiện rằng mặc dù phụ nữ sở hữu 50% bằng cử nhân và 42% bằng cấp cao hơn và chiếm 46% lao động, nhưng phụ nữ vẫn tiếp tục bị phân biệt đối xử tại nơi làm việc, thiếu đại diện trong hầu hết các vị trí quyền lực (giữ ít hơn 5% quản lý cấp cao và các vị trí điều hành), lương thấp hơn nam giới. 10 Theo International IDEA [141], phụ nữ chỉ chiếm 16% ghế trong QH tính trên toàn thế giới. Trong nghiên cứu này, International IDEA đã phân tích thực trạng tham gia chính trị của phụ nữ ở một số quốc gia và khu vực để so sánh sự khác biệt như Arab, Indonesia hay khu vực Mỹ La tinh… Sự tham gia vào chính trường của phụ nữ bản địa ở khu vực Mỹ La tinh được International IDEA (2005) đánh giá như là một hiện tượng. Một nghiên cứu khác của International IDEA [140] về tình hình phụ nữ tham gia chính trị tiếp tục khẳng định: Mặc dù mỗi nước lại khác nhau, nhưng khu vực Arab nói chung đều có tỉ lệ phụ nữ tham gia chính trị rất thấp.
Đầu phiếu phổ thông dù đã trở nên phổ biến ở nhiều nước, nhưng vẫn có những phụ nữ ở Arab bị từ chối quyền đó. Tỉ lệ phụ nữ tham gia vào lập pháp của phụ nữ Arab là thấp nhất trên thế giới. Tỉ lệ trung bình của thế giới vào tháng 1/2005 là 15,7%, trong khi ở Arab chỉ là 6,7%. Với đất nước Indonesia, sự xuất hiện trong Nghị viện QH là một quá trình đấu tranh lâu dài của phụ nữ, tuy nhiên cho đến nay số lượng nữ giới trong QH Indonesia vẫn là con số khiêm tốn và ít ỏi.
Tại Trung Quốc, vào năm 2001, có 14 nữ thứ trưởng, tỷ lệ CB nữ chiếm 36,7% tổng số CB của cả nước. Năm 2005, tỷ lệ CB nữ cấp Vụ, Cục chiếm 29% so với tổng số CB lãnh đạo cùng cấp của cả nước. Tại Hàn Quốc, vào năm 2002 tỷ lệ nữ công chức chiếm 32,9% tổng số công chức cả nước, nhưng chỉ có 1,3% công chức nữ thuộc đối tượng có thể tham gia vào các quyết định chính sách quan trọng từ cấp 3 trở lên. Tại Nhật Bản, vào năm 2000, tỷ lệ nữ trong Tham nghị viện (Thượng viện) là 17,1%, Chúng nghị viện (Hạ viện) là 7,5% và ở Chính phủ các địa phương, tỷ lệ nữ đạt cao nhất là 19,7% [162].
Chính sách của các Chính phủ trong việc thúc đẩy sự tham gia chính trị của phụ nữ Một số nghiên cứu chỉ ra rằng việc áp dụng các hạn ngạch giới là một trong những giải pháp quan trọng được chính phủ, các đảng phái của một số quốc gia áp dụng có hiệu quả trong việc thúc đẩy sự tham gia chính trị của phụ nữ. 11 Tại Trung Quốc, tháng 7 năm 1990, Ban Tổ chức TƯ ĐCS Trung Quốc và Hội Liên hiệp phụ nữ (Hội LHPN) toàn quốc Trung Quốc đã tổ chức hội nghị bàn về vấn đề bồi dưỡng CB nữ, tỷ lệ CB nữ trong các cơ quan thấp và tình trạng già hóa của đội ngũ CB nữ. Hội nghị đã đưa ra hai mục tiêu: đến năm 1995, 100% các huyện và 50% các xã có CB chủ chốt là nữ; các đơn vị làm công tác tổ chức CB cần ưu tiên quan tâm đến CB nữ [162]. Tại Indonesia, các nhà hoạt động phong trào ở Indonesia đã phải đấu tranh rất nhiều để có thể đưa hạn ngạch cho phụ nữ vào như một điều luật ở Indonesia và đã thành công.
Khoảng 30% hạn ngạch tự nguyện cho mỗi bên đã được quy định ở trong Điều luật số 12 (năm 2003), có hiệu lực một năm trước khi cuộc bầu cử năm 2004 được tổ chức. Một điều khoản trong mục 65 Điều luật số 12 nêu ra là: mỗi đảng phái chính trị trong cuộc bầu cử được phép đề cử ứng viên làm thành viên của nghị viện cấp quốc gia, cấp tỉnh và cấp địa phương cho mỗi khu vực bầu cử với tỷ lệ hiện diện của phụ nữ ít nhất là 30%. Tuy nhiên, hệ thống hạn ngạch này là không bắt buộc và không có các chế tài để đảm bảo rằng các hạn ngạch này cần phải đạt được trong thực tế, việc triển khai trên thực tế phụ thuộc rất nhiều vào ý muốn của các đảng phái chính trị. Không có hình phạt hay hình thức kỷ luật nào dành cho các bên không áp dụng hạn ngạch [156].
Tại Ấn Độ, Bản Hiến pháp sửa đổi có hiệu lực năm 1992, quy định bắt buộc phải có ít nhất 1/3 số ghế trong các cơ quan dân cử địa phương của Ấn Độ dành cho phụ nữ. Các chỉ tiêu giới được đánh giá là đã góp phần giảm sự phân biệt giới về dài hạn thay vì tạo ra phản ứng chống lại phụ nữ [151]. Trong các khu vực không xác định trước hạn ngạch, tỷ lệ tham gia của ứng viên nữ rất thấp. Khi cho phép có các lãnh đạo nữ ở các khu vực nhất định, sự tham gia của phụ nữ như một ứng viên gia tăng đáng kể: trong cuộc bầu cử năm 1997 có tới trung bình 7,5% ứng viên nữ ở các khu vực định trước hạn ngạch, ở các khu vực không chỉ định trước hạn ngạch tỷ lệ này là 5%.
Ở những khu vực chỉ định trước hai lần (không phải chỉ định 1 lần) như Panchayats ở vùng Tây Bengal, số lượng 12 ứng viên nữ được bầu chọn tăng hơn gấp đôi khi được chỉ định 2 lần (10,1%). Việc gia tăng tỷ lệ nữ trong hệ thống chính trị có vẻ như góp phần gia tăng tỷ lệ phụ nữ phát biểu trong các cuộc họp ở các làng Ấn Độ: khi có phụ nữ đứng trong hàng ngũ lãnh đạo chính trị, tỷ lệ này lên tới 25%.